Chương 1: VẤN ĐỀ CẠNH TRANH CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ HÀNG KHÔNG TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1- Khái quát, vị trí của ngành Hàng không: 1.1- Khái quát: Cảng hàng không là khu vực xác định, bao gồm sân bay, nhà ga và trang thiết bị, công trình cần thiết khác được sử dụng cho tàu bay đi, đến và thực hiện vận chuyển hàng không. Cảng Hàng không là loại sân bay dân dụng hiện đại, phục vụ việc vận chuyển hành khách và hàng hóa thương mại. Cảng hàng không được phân thành các loại sau đây: Cảng hàng không quốc tế là cảng hàng không phục vụ cho vận chuyển quốc tế và vận chuyển nội địa; Cảng hàng không nội địa là cảng hàng không phục vụ cho vận chuyển nội địa. Sân bay là khu vực xác định được xây dựng để bảo đảm cho tàu bay cất cánh, hạ cánh và di chuyển.
Sân bay chỉ phục vụ mục đích khai thác hàng không chung hoặc mục đích vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu phẩm, bưu kiện, thư mà không phải vận chuyển công cộng là sân bay chuyên dùng. Cụm cảng hàng không ở Việt Nam có nhiệm vụ quản lý và khai thác các Cảng hàng không trong khu vực mình phụ trách, xây dựng quy hoạch, kế hoạch và đề án phát triển, nâng cấp, mở rộng các Cảng hàng không. Các Cảng Hàng không, sân bay là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích, có nhiệm vụ quản lý khai thác Cảng hàng không nhằm cung ứng các dịch vụ hàng không, dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, theo kế hoạch Nhà nước giao và theo giá do Nhà nước quy định. Cùng với sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp Hàng không, hệ thống Cảng Hàng không, sân bay đã vượt qua một chặn đường lịch sử từ khái niệm sân bay đơn thuần như một bãi đáp tầu bay đến các Cảng hàng không, sân bay và ngày nay là các tổ hợp Hàng không sân bay khổng lồ hay còn gọi là Thành phố sân bay với đầy đủ các dịch vụ hiện đại đáp ứng nhu cầu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đi và đến tại Cảng hàng không sân bay.2- Vị trí của ngành Hàng không: Ngành Hàng không dân dụng là một ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng trong mỗi quốc gia, là một bộ phận cấu thành nhạy cảm của nền kinh tế.
Nó phản ánh sự phát 13 triển kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia. Hàng không dân dụng Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước phát triển nhảy vọt cả về lượng và chất, đã thực sự đóng góp tích cực, to lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Cảng Hàng không, sân bay là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, có ý nghĩa to lớn trong mạng kết cấu hạ tầng giao thông và an ninh quốc gia; là đầu mối giao thông quan trọng giữa các vùng, miền của đất nước thúc đẩy phát triển giao lưu văn hóa, kinh tế xã hội; là cầu nối cửa khẩu quốc gia với quốc tế, hòa nhập tăng cường giao lưu, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.- Vấn đề cạnh tranh các hoạt động dịch vụ hàng không: 1.1- Cơ sở lý luận về cạnh tranh: Cạnh tranh không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ cạnh tranh khác. Trong một thị trường, một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó có giá rẻ hơn và có cùng chất lượng với một sản phẩm, dịch vụ cạnh tranh thì người tiêu dùng sẽ mua sản phẩm, dịch vụ đó nhiều hơn.
Mặt khác, nếu sản phẩm, dịch vụ đó có giá đắt hơn nhưng có chất lượng cao hơn thì nó vẫn được người tiêu dùng ưa chuộng hơn bởi vì người tiêu dùng tìm thấy được “giá trị” của sản phẩm, dịch vụ đó mà nó không được tìm thấy ở sản phẩm, dịch vụ cạnh tranh. Theo Michael Porter, Giáo sư Đại học Harvard (Hoa Kỳ), “Lợi thế cạnh tranh về cơ bản xuất phát từ giá trị mà một xí nghiệp có thể tạo ra cho người mua và giá trị đó vượt quá phí tổn của xí nghiệp”. Cạnh tranh của ngày hôm nay cũng dần thay đổi, sự cạnh tranh ngày càng không phải là cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ trong một ngành có cấu trúc rõ ràng nhằm phân chia thặng dư kinh tế, mà là cuộc cạnh tranh để chi phối cơ hội đầu tư mới, một sự đa dạng hóa sản phẩm nhằm tậng dụng mọi nguồn lực có thể nhằm thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng phát triển. Thí dụ như lĩnh vực dịch vụ tài chính hôm nay, thì đâu là chỗ bắt đầu và kết thúc của ngành dịch vụ này? Khi mà General Motors trở thành một trong những nhà phát hành thẻ tín dụng lớn nhất, các ngân hàng Anh trở thành những nhà bảo lãnh bảo hiểm lớn nhất, Bưu điện Việt Nam 14 nhận tiền gữi tiết kiệm hàng tháng, Ngân hàng kinh doanh bất động sản, Tổng công ty xăng dầu Việt Nam thành lập Công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex(PJICO).
Để xác định được những lợi thế cạnh tranh, cơ hội, thách thức, điểm mạnh, yếu mà doanh nghiệp đang và sẽ đối mặt trong quá trình hoạt động, làm cơ sở cho quá trình hình thành chiến lược của doanh nghiệp cần xem xét hai nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó là môi trường bên trong và môi trường bên ngoài. Hoạch định chiến lược nhanh và đúng đắn sẽ giúp doanh nghiệp xác định một vị thế cao trong thị trường đầy biến động như hiện nay.1- Môi trường bên ngoài: Khi hoạch định chiến lược, môi trường bên ngoài là điều kiện đảm bảo sự thành công của chiến lược đó. Vì vậy cần nghiên cứu môi trường bên ngoài, đặc biệt các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến từng doanh nghiệp, từng ngành một cách thường xuyên, liên tục nhằm nhận định những mối đe dọa cũng như những cơ hội có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Tám tiêu chuẩn hiệu qủa đề cập đến môi trường bên ngoài của một công ty thành công được các nhà kinh tế học nêu ra để các doanh nghiệp hoạt động: - Có ý thức và khả năng cạnh tranh trên thị trường.
- Biết đầu tư lớn vào những chương trình nghiên cứu và phát triển dài hạn. - Có sản phẩm mới xuất hiện đều đặn trên thị trường. - Sử dụng thận trọng kỹ thuật marketing. - Nhanh chóng ứng phó trước những than phiền của khách hàng.
- Bảo đảm chất lượng theo ý muốn người tiêu thụ. - Quan tâm phục vụ đầy đủ khách hàng. - Giá cả phù hợp với khách hàng. Doanh nghiệp có vị thế cao trên thị trường khi nhận định đúng và có những chiến lược hành động phù hợp với thị trường.
Doanh nghiệp phải luôn tìm hiểu đối thủ cạnh tranh của mình về mọi mặt như: Mục tiêu, phương hướng phát triển sắp tới để có những phản ứng kịp thời. Khách hàng là một yếu tố cực kỳ quan trọng có ảnh hưởng đến quá trình hoạch định mục tiêu của doanh nghiệp. Nguyện vọng của khách hàng là giá cả sản phẩm thấp, chất lượng sản phẩm, dịch vụ cao hơn, được cung cấp hàng hóa nhanh chóng và ổn định, điều kiện thiếu nợ dễ dàng, bảo hành 15 tốt, dịch vụ nhanh chóng, vị trí mua hàng thuận tiện.Chính vì vậy doanh nghiệp phải luôn luôn quan tâm giải quyết các vấn đề làm sao để hơn hẳn các doanh nghiệp đối thủ. Có như vậy doanh nghiệp mới tạo khả năng cạnh tranh trên thị trường được.
Theo Michael Porter, có 3 biểu hiện nói lên lợi thế cạnh tranh: - Chi phí thấp (Low cost): Trong những điều kiện tương đương doanh nghiệp tạo ra một giá trị nào đó với chi phí thấp hơn đối thủ thì doanh nghiệp đó có lợi thế hơn. - Khía cạnh khác biệt hóa (Differentiation): Tạo những điểm khác biệt với đối thủ và lấy điểm đó làm lợi thế. - Tập trung (Focus): Tập trung vào các điểm mạnh, khác biệt, lĩnh vực chuyên sâu nào đó để tạo lợi thế. * Môi trường cạnh tranh: Là môi trường gắn trực tiếp với từng doanh nghiệp.
Phần lớn các hoạt động và cạnh tranh của doanh nghiệp xảy ra trực tiếp tại đây. Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michel Porter: Mô hình này tạo thành bối cảnh cạnh tranh trong một ngành kinh doanh. Sức mạnh của các áp lực cạnh tranh trong ngành sẽ quyết định mức độ của đầu tư, cường độ cạnh tranh và mức lợi nhuận của ngành. KINH TẾ CÔNG NGHỆ ĐE DỌA CÔNG TY MỚI NHẬP NGÀNH TRANH MẶC CẢ GIÀNH MẶC CẢ CỦA NHÀ GIỮA CỦA CUNG CẤP CÁC NGƯỜI MUA ĐỐI THỦ ĐE DỌA CỦA CÁC SẢN THAY ĐỔI NỘI PHẨM THAY THẾ 16 DÂN SỐ HỌC TẠI CỦA NGÀNH Tính chất tác động của các áp lực cạnh tranh có thể có sự thay đổi theo thời gian và bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của ngành.
Xem xét các áp lực cạnh tranh : Mối đe dọa của các xí nghiệp mới gia nhập thị trường: Nguy cơ xâm nhập vào một ngành phụ thuộc vào các rào cản xâm nhập, thể hiện qua các phản ứng của các đối thủ cạnh tranh hiện thời mà các đối thủ mới có thể dự đoán. Các rào cản chính ngăn chặn sự xâm nhập. - Lợi thế kinh tế theo qui mô: Với qui mô lớn doanh nghiệp có thể thu được các khoản lợi tức tăng thêm nhờ sự tiết kiệm do việc sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn. Tuy nhiên, ngày nay nền kinh tế phát triển có xu hướng quay về sản xuất với qui mô nhỏ theo định hướng của khách hàng.
Vì thế rào cản này không phải là quá cao để ngăn chặn các đối thủ tiềm năng xâm nhập. - Sự khác biệt của sản phẩm: Khác biệt về chất lượng, kiểu dáng, cung cách phục vụ, công tác quảng cáo hoặc doanh nghiệp là một trong những người tiên phong trong ngành. Sự khác biệt đó tạo nên sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp và tạo nên rào cản xâm nhập. Nó buộc các đối thủ mới phải làm rất nhiều để vượt qua sự trung thành của khách hàng, điều đó làm cho họ phải chịu phí tổn cao và lỗ trong thời gian đầu là không thể tránh được.
Các đối thủ mới còn phải chịu sự mạo hiểm nếu xâm nhập thất bại. Tranh giành giữa các đối thủ cạnh tranh trong ngành: Đây là một áp lực thường xuyên và đe dọa trực tiếp các doanh nghiệp. Khi áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng tăng lên thì càng đe dọa về vị trí và sự tồn tại của các doanh nghiệp.