CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH 1.1 Khái quát về hội nhập kinh tế quốc tế Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế phát triển của thế giới, bắt đầu từ sau cuộc chiến thế giới lần thứ II và đặc biệt phát triển rất mạnh mẽ từ những thập niên 90 của thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. Hội nhập và toàn cầu hoá đang diễn ra cùng với quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư, quá trình hình thành các dạng liên kết kinh tế mới, và gia tăng tốc độ của tiến bộ khoa học và công nghệ… Các quá trình này chính là các nhân tố thúc đẩy cạnh tranh kinh tế giữa các chủ thể kinh tế cả ở tầm quốc gia, quốc tế và khu vực. Thực tiễn cho thấy, hội nhập và toàn cầu hoá đã ngày càng gây áp lực buộc các quốc gia, các doanh nghiệp phải nỗ lực để vượt trội nếu muốn tiếp tục tồn tại và phát triển. Điều đó cho thấy hội nhập và toàn cầu hoá là nguyên nhân khách quan đòi hỏi các chủ thể kinh tế ngày càng phải nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ở Việt nam, hội nhập kinh tế quốc tế còn là một khái niệm khá mới mẻ, được sử dụng nhiều từ giữa thập niên 1990 trở lại đây. Tại cuốn sách “Việt nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa - vấn đề và giải pháp” do Nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản năm 2002 đã đưa ra khái niệm: “Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương”.2 Hội nhập quốc tế về tài chính 1.1 Bản chất của Hội nhập quốc tế về tài chính Bản chất của Hội nhập quốc tế về tài chính và tiền tệ là quá trình các nước, các khu vực mở cửa cho yếu tố nước ngoài tiếp cận lĩnh vực tài chính bao gồm: vốn, công nghệ, lao động trình độ kỹ thuật cao… đồng thời các tổ chức trong nước tiếp cận và thâm nhập vào lĩnh vực tài chính các nước khác. Nói cách khác, Hội nhập quốc tế về tài chính là quá 8 trình diễn ra đồng thời, từng dịch vụ tài chính của quốc gia này được thực hiện ở quốc gia khác qua sự hiện diện của thương mại hoặc của một tổ chức. Hội nhập quốc tế về tài chính và tiền tệ tức ngành tài chính phải phải được tự do hoá để hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế (quá trình tự do hóa tài chính).
Tự do hoá tài chính cụ thể là dỡ bỏ các hạn chế và giới hạn trong việc phân bổ nguồn lực tín dụng, thống nhất các thể chế, qui định, chính sách, tiêu chuẩn… về tài chính. Các tổ chức tài chính hoạt động theo cơ chế thị trường, tự do quyết định lãi suất cho vay và xoá bỏ các ràng buộc khác trong việc sử dụng nguồn vốn. Tự do hoá tài chính giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ và các giao dịch tài chính, thúc đẩy cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính, xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các loại hình tổ chức tài chính khác nhau. Hội nhập quốc tế về tài chính là một quá trình liên tục được thúc đẩy từ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ và kinh tế của một quốc gia; là quá trình hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với nhu cầu và lợi ích của nhau.
Như vậy, có thể nói hội nhập quốc tế về tài chính là quá trình từng bước gắn kết ngành tài chính Việt nam với thị trường tài chính thế giới. Quá trình này được hỗ trợ bởi sự hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng cũng như bởi việc thực hiện điều chỉnh các tiêu chuẩn quốc tế và định chế của từng quốc gia.2 Hội nhập quốc tế trong hoạt động ngân hàng Trong những năm gần đây xu hướng các ngân hàng đẩy mạnh hoạt động toàn cầu thông qua việc huy động vốn trong nước để cho vay ở nước ngoài ngày càng phát triển. Các ngân hàng thâm nhập thị trường nước ngoài thông qua việc mở văn phòng đại diện, thiết lập các chi nhánh và ngân hàng con để thu hút và cung cấp các khoản vay ngay tại nước đó. Sự tăng trưởng nhanh của hệ thống NHTM buộc các ngân hàng phải tìm giải pháp duy trì ở qui mô lớn nhằm giảm thiểu chi phí, mở rộng mạng lưới hoạt động, tăng qui mô vốn…nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
Hệ thống tài chính ngân hàng cạnh tranh và mở cửa giúp hỗ trợ hiệu quả cho phát triển và tăng trưởng kinh tế. Cạnh tranh sẽ làm cho hệ thống ngân hàng vững mạnh, hiệu 9 quả và lành mạnh hơn. Do vậy, các nước đang phát triển nói chung mong muốn hội nhập quốc tế, phát triển và cải cách hệ thống ngân hàng nhằm nâng cao khả năng thu hút và phân bổ các nguồn lực, tạo thuận lợi cho các tổ chức kinh tế có thể tiếp cận các dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao hơn nhưng với chi phí thấp hơn. Để khuyến khích hội nhập quốc tế, chính phủ các nước thường thực hiện mở cửa tiếp cận thị trường, đối xử quốc gia, xây dựng môi trường chính sách trong nước hỗ trợ cho cạnh tranh, từng bước cho phép các ngân hàng nước ngoài cạnh tranh trong một sân chơi công bằng và tạo thuận lợi cho các tổ chức tín dụng trong nước thâm nhập thị trường quốc tế, đồng thời chính phủ các nước cũng áp dụng các tiêu chuẩn thông lệ tốt nhất của quốc tế liên quan đến hoạt động ngân hàng làm cho thương mại và luân chuyển vốn quốc tế tự do hơn.
Mức độ hội nhập quốc tế đạt được trên thực tế tuỳ thuộc vào sự phản hồi của các ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng trong nước đối với các cơ hội do sự thay đổi chính sách tạo ra. Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng được thể hiện thông qua: Mức độ sở hữu nước ngoài trong các ngân hàng trong nước; thị phần dịch vụ ngân hàng của các ngân hàng nước ngoài; Phạm vi áp dụng các tiêu chuẩn, qui chế và quy định theo thông lệ quốc tế; và phạm vi dịch vụ ngân hàng cung cấp cho các hộ gia đình và doanh nghiệp là người cư trú.3 Những cam kết chủ yếu của Việt nam trong lĩnh vực ngân hàng khi gia nhập WTO Tháng 11 năm 2006 Việt nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Theo đó, Việt nam được/đồng thời phải thực hiện đối xử quốc gia với các nhà đầu tư nước ngoài. Trong lĩnh vực ngân hàng, các ràng buộc đối với nhà đầu tư nước ngoài phải dần được gỡ bỏ theo một lộ trình cam kết.
Cụ thể: - Các TCTD nước ngoài được thiết lập hiện diện thương mại tại Việt nam dưới các hình thức như văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh và 100% vốn nước ngoài. Kể từ ngày 01/04/2007, ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập tại Việt nam; 10 - Các TCTD nước ngoài hoạt động tại Việt nam được phép cung ứng hầu hết các loại hình dịch vụ ngân hàng như cho vay, nhận tiền gởi, cho thuê tài chính, kinh doanh ngoại tệ, các công cụ thị trường tiền tệ, công cụ phái sinh, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, cung cấp dịch vụ thanh toán, tư vấn thông tin tài chính; - Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gởi VNĐ không giới hạn từ các pháp nhân. Việc huy động tiền gởi VNĐ từ các thể nhân Việt nam sẽ được nới lỏng trong vòng 5 năm theo lộ trình sau: Ngày 01 tháng 01 năm 2007 :650% vốn pháp định được cấp Ngày 01 tháng 01 năm 2008 :800% vốn pháp định được cấp Ngày 01 tháng 01 năm 2009 :900% vốn pháp định được cấp Ngày 01 tháng 01 năm 2010 :1000% vốn pháp định được cấp Ngày 01 tháng 01 năm 2011 : Đối xử quốc gia đầy đủ - Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép mở các điểm giao dịch ngoài trụ sở chi nhánh, nhưng được giành đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc đầy đủ trong việc thiết lập và vận hành hoạt động các máy rút tiền tự động; - Các TCTD nước ngoài sẽ được phép phát hành thẻ tín dụng trên cơ sở đối xử quốc gia từ khi Việt nam gia nhập WTO; - Một ngân hàng thương mại nước ngoài có thể đồng thời mở một ngân hàng con và các chi nhánh hoạt động tại Việt nam. Các điều kiện cấp phép đối với ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ dựa trên các qui định an toàn và giải quyết các vấn đề như tỷ lệ an toàn vốn, khả năng thanh toán và quản trị doanh nghiệp.
Ngoài ra, các tiêu chí đối với chi nhánh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ được áp dụng trên cơ chế quản lý đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, bao gồm yêu cầu về vốn tối thiểu, theo thông lệ quốc tế đã được chấp nhận chung; - Các ngân hàng nước ngoài có thể tham gia góp vốn liên doanh với đối tác Việt nam với tỷ lệ vốn góp không quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh.