CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỀ NGUỒN VÓN VÀ CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG 1.1 Nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về nguồn vốn của ngân hàng thương mại Theo quan niệm của kinh tế học phát triển: Vốn là hình thái giá trị của toàn bộ tư liệu sản xuất được sử dụng một cách hợp lý và có kế hoạch vào quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội theo mục tiêu đã định trước. Theo quan niệm về vốn của các nhà kinh tế học cô điên và của Các Mác chúng ta có thể hiểu về vốn theo 2 nghĩa sau: - vốn được hiểu theo nghĩa hẹp: là tiêm lực tài chính của môi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Theo nghĩa hẹp chúng ta có thể nói đến vốn là chủ yếu nói đên vôn tiên tệ vì thực chất nền kinh tế thị trường ngày nay là nền kinh tế tiên tệ. - Vốn được hiểu theo nghĩa rộng: bao gồm nguồn nhân lực, tài lực, chât xám, tiền bạc và cả quan hệ đã tích luỹ của mỗi cá nhân, một doanh nghiệp hay một quốc gia.
Vốn theo nghĩa rộng là toàn bộ những tài sản tồn tại dưới tât cả các hình thái mà một xã hội, một quốc gia có được ở một thời diêm hay một thời kỳ nhất định, có thể chi phối và sử dụng cho công việc xây dựng, phát triển đất nước, hoạt động của doanh nghiệp và nhu cầu của hộ gia đình. Trong nền kinh tế thị trường thì vốn được hiểu một cách đây đủ, được nhận thức một cách hoàn chỉnh hơn: Vốn là một phạm trù rộng lớn bao gôm tiền tệ, tài sản, vật tư, nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và nhiêu vốn hữu hình hay vốn vô hình khác như phát minh, sáng chê bản quyên kinh - 4 - doanh, trình độ công nhân. Như vậy, vốn là một loại nhân tố đầu vào, đồng thời là kết quả đầu ra trong quá trình hoạt động của nền kinh tế. Đối với NHTM thì v ố n của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập thông qua việc huy động, đi vay để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.vốn của NHTM bao gồm: vốn tự có, vốn huy động, vồn đi vay, vốn khác.
Thực chất vốn của NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, kinh doanh, phân phối, tiêu dùng, mà người chủ sở hữu chúng gửi vào ngân hàng với mục đích khác nhau, họ có quyền sở hữu còn quyền sử dụng vốn tiền tệ họ chuyển nhượng cho ngân hàng, đê rôi ngân hàng phải trả họ một khoản thu nhập. Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định đến việc tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng.2 Nguồn vốn và các nhân tổ ảnh hưởng tới tăng trưởng nguồn vốn của ngân hàng thương mại 1.1 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại Nguồn vốn của NHTM bao gồm nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, nguồn vốn huy động, nguồn vốn đi vay, vốn khác. Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động kinh doanh của NHTM.
Có thể phân nguồn vốn thành: a/ Nguồn vốn chủ sở hữu Cũng giống như bất kỳ một doanh nghiệp nào, để bắt đầu hoạt động ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định (theo pháp luật qui định từng thời kỳ). Đây là nguồn vốn sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng và đặc biệt là tham gia đầu tư, góp vốn liên doanh. -5 - Vốn tự có là nguồn vốn quan trọng vì nó là cơ sở để mở rộng qui mô hoạt động, quyết định đến năng lực và thế cạnh tranh của NHTM, là tài sản đảm bảo tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Ngoài ra, nó còn là một trong những căn cứ quyết định đến khả năng và khối lượng vốn huy động của ngân hàng, đồng thời với chức năng bảo vệ, vốn tự có coi như “tấm đệm” giúp duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ.
Theo đà phát triển của ngân hàng vốn này sẽ tăng dần về số tuyệt đối, bao gồm: - Vốn điều lệ: là vốn mà NHTM phải có để đi vào hoạt động được ghi trong văn bản pháp quy. Tuỳ theo hình thức sở hữu của mỗi ngân hàng mà nguồn vốn hình thành ban đầu khác nhau: là ngân hàng quốc doanh thì do Ngân sách Nhà nước cấp, là ngân hàng cổ phần thì do cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu, là ngân hàng liên doanh thì do các bên liên doanh đóng góp, là ngân hàng tư nhân thì vốn của tư nhân. - Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: trong quá trình hoạt động các ngân hàng có thể gia tăng vốn chủ sở hữu theo nhiều phương thức khác nhau, cụ thể là: nguồn từ lợi nhuận, nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm. - Các quỹ: các ngân hàng thường có nhiều quỹ, mỗi quỹ có mục đích riêng.
Các quỹ của ngân hàng thuộc sở hữu của chủ ngân hàng, nguồn hình thành các quỹ này từ thu nhập của ngân hàng. b/ Nguồn vốn huy động Vốn huy động của NHTM là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua hoạt động kinh doanh của mình. Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu nó và có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi khi đến hạn, hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn để chi trả trước hạn. -6- v ố n huy động thường xuyên biến động nên ngân hàng không được phép sử dụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán, v ố n huy động đóng vai trò rât quan trọng và chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Trong tông nguôn vôn của NHTM thì nguồn vốn huy động thường chiếm tỷ trọng lớn nhât. Vôn huy động bao gồm: - Vốn tiền gửi: tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng. Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay do đó nó là nguôn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của NH. Qui mô của vôn tiên gửi cũng lớn so với các nguồn khác, là đối tượng phải dự trữ băt buộc, mua bảo hiểm tiền gửi.
Tiền gửi tại NH có nhiều loại, các ngân hàng thường dựa vào lãi suất để cạnh tranh với nhau. Hiện nay, các ngân hàng đưa ra nhiêu hình thức huy động tiền gửi khác nhau: + Tiền gửi giao dịch (tiền gửi thanh toán): tiên gửi thanh toán của các NHTM là tiền gửi của cá nhân, của các doanh nghiệp và nhiêu nước trên thê giới chính phủ trung ương và địa phương cũng mở tài khoản thanh toán tại các NHTM. Đối với loại tiền gửi này, mục đích gửi tiền là nhăm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuât kinh doanh và tiêu dùng. Đối với phần lớn các khách hàng, mục đích hưởng lợi đôi với loại tiền gửi này chỉ giữ vai trò thứ yếu thay vào đó chủ tài khoản có thê được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp.
Hiện nay một số ngân hàng kết hợp tiền gửi thanh toán với các tài khoản cho vay hoặc nâng lãi suât để cạnh tranh với các ngân hàng khác. + Tiền gửi phi giao dịch: các doanh nghiệp và cá nhân có thu nhập tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng trong một thời gian nhất định có thê gửi vào ngân hàng dưới hình thức ký thác có kỳ hạn. lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch. Tuy chi phí trả tiên lãi cao nhưng chi -7- phí duy trì và quản lý đối với tài khoản tiền gửi phi giao dịch nói chung là thâp.
Mặt khác với tiền gửi phi giao dịch, người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán như đối với tiền gửi giao dịch. Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng rút tiền ra. Tuy phải trả chi phí cao hơn so với tiền gửi giao dịch nhưng đổi lại tiền gửi phi giao dịch có tính ổn định cao hơn, giúp ngân hàng có thể chủ động lập kế hoạch sử dụng nguồn này một cách có hiệu quả. + Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: tiên gửi tiêt kiệm là tiên đê dành của dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi.
Có hai hình thức tiết kiệm cơ bản là:. Tiền gửi tiết kiện không kỳ hạn là loại tiên gửi mà khách hàng có thê gửi nhiều lần và rút ra bất cứ khi nào. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiên gửi được rút ra sau một thời hạn nhất định. Tuy vậy khách hàng có nhu cầu rút tiền trước hạn cũng có thể được đáp ứng với điều kiện được hưởng lãi suất thấp (thường bằng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn).
Ngày nay, trong cơ chế thị trường khi mà hoạt động của các ngân hàng đan xen, chồng chéo, thậm chí dẫm đạp lên nhau thì tính cạnh tranh giữa các ngân hàng trở nên khốc liệt hơn, nên các ngân hàng đã thường xuyên cải tiên để đưa ra thị trường đa dạng các hình thức huy động, đa dạng các kỳ hạn đôi với huy động tiết kiệm có kỳ hạn, nhăm thu hút ngày càng nhiêu hơn tiên gửi tạm thời nhàn rỗi trong dân cư. Huy động tiết kiệm thường chiêm tỷ trọng lớn trong cơ cấu, sổ lượng nguồn vốn của NHTM và có tính ổn định cao. + Tiền gửi của các ngân hàng khác: với mục đích nhờ thanh toán hộ và thu lãi, NHTM này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác, tuy nhiên quy mô nguồn này thường không lớn và thời gian thường không lâu. Thê nhưng nguồn tiền này cũng có vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng trong những điều kiện nhất định.