CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CHUYÊN MÔN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài Vào những năm 60 của thế kỷ 20, các khái niệm ‘vốn con người’ ( Human capital) và ‘nguồn lực con người’ ( Human resource) xuất hiện đầu tiên ở Mỹ, sau đó phổ biến ra thế giới. Tác giả đầu tiên xây dựng khái niệm niệm này là nhà kinh tế học người Mỹ - Theodor Schoultz , tiếp nối cũng bởi nhà kinh tế người Mỹ được giải thưởng Nobel năm 1992 – Gary Backer. Nhà xã hội học người Mỹ - Leonard Nadle đã đưa ra sơ đồ QLNNL để mô tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác QLNNL vào những năm 80 của thế kỷ trước - cho rằng QLNNL có 3 nhiệm vụ chính là 1) Phát triển nguồn nhân lực (bao gồm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); 2) Sử dụng nguồn nhân lực ( bao gồm tuyển dụng, sàng lọc, bố trí , đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hóa sức lao động); 3) Môi trường nguồn nhân lực ( bao gồm mở rộng việc làm, qui mô, phát triển tổ chức) Theo Sulman (1986), yêu cầu chuyên môn của GV gồm các kiến thức về các vấn đề như sau: lý thuyết và thực tiễn; cấu trúc môn học; lập kế hoạch giảng dạy; chương trình và các yếu tố trong chương trình đào tạo; SV, nắm rõ các yếu tố SV ‘hiểu’ hoặc ‘không hiểu’; các phương pháp giảng dạy. Trong khi tác giả Catherine Armstrong 9 (2010) cho rằng người GV có hai nhiệm vụ chính là giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Nhưng đầu tiên GV cần phát triển các kỹ năng giảng dạy của mình, song song với việc tích lũy kinh nghiệm trên lĩnh vực này Các tác giả khác như Speck và Knipe (2005) quan tâm đến PTCM nói chung và việc phát triển phương pháp giảng dạy cho ĐNGV đại học bằng các hình thức như tạo cơ hội học tập cho họ; tham gia các hoạt động tư vấn, giúp đỡ SV học tập; giám sát và hỗ trợ cho các cơ sở giáo dục; tham quan thực tế…Còn các tác giả Maria Hendriks, Hans Luyten, Jaap Scheerens, Peter Sleegers và Rien Steen (2000) cho rằng, việc phát triển ĐNGV về chuyên môn cần quan tâm các yếu tố như niềm tin và năng lực, chất lượng giảng dạy, sự liên tục trau dồi và phát triển tri thức khoa học, kỹ năng nghề nghiệp, tình cảm nghề nghiệp… Kết quả nghiên cứu của các tác giả trường đại học New Jersey - Mỹ (2000) đã công bố, các kỹ năng sư phạm cần được phát triển ở ĐNGV đại học dựa trên các nhiệm vụ, mục tiêu và triết lý của GDĐH là động lực, truyền thông, hành vi, kế hoạch, hướng dẫn, dịch vụ, chiến lược, kiểm tra đánh giá.Beerens (2006) lại chú trọng tạo ra một nền văn hóa về sự thúc đẩy và học tập trong đội ngũ (Creating a Culture of Motivation and Learning), coi đó là giá trị mới của nhà giáo. Ông cho rằng, tính động trong tăng trưởng và luôn luôn đổi mới là tiêu chí trung tâm của ĐNNG ngày này. NBPTS (Ủy ban Quốc gia về các tiêu chuẩn chuyên môn nhà giáo) thành lập năm 1987 sau hội nghị Hội thảo Carnegie về nhà giáo cho thế kỷ 21, đã phát hành một bản yêu cầu mang tính nguyên tắc định hướng nghề nghiệp đầu tiên : Thầy giáo cần phải biết và có thể làm gì ? (What teachers should bknow and be able to do?) với 5 tiêu chí cốt lõi là kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ và niềm tin. 10 Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế (OECD - Organization for Economic Cooperation and Development) (https://www.org/) đã nêu ra chất lượng nhà giáo gồm 5 mặt: 1) Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; 2)Kỹ năng sư phạm, kiến thức về phương pháp dạy học và năng lực sử dụng các phương pháp đó; 3)Có tư duy phản ánh, có năng lực tự phê; 4) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; 5) Có năng lực QL, kể cả trong và ngoài lớp học.
Theo Trần Kiểm (2016), trong hoàn cảnh hội nhập hiện nay, có một tiếp cận tương tự: GV đại học là kết quả của Nhà giáo + Nhà khoa học + Nhà quản lý + Nhà cung ứng xã hội ( trang 37) Nghiên cứu của Stess và Dochy (2013) chỉ ra, PTCM đội ngũ GV là sự phát triển về học thuật; bồi dưỡng và phát triển kiến thức chuyên môn; bồi dưỡng và phát triển về tư tưởng nhận thức; bồi dưỡng và phát triển nghiệp vụ sư phạm Nghiên cứu của Thomas Cocorvan (2000) cho rằng, PTCM đội ngũ GV không chỉ là đào sâu kiến thức chuyên ngành và trau dồi phương pháp dạy học mới mà GV còn phải nghiên cứu cách đánh giá theo hướng phát triển tư duy phản biện cho SV, cần phải biết cải tiến chương trình đào tạo, biết hợp tác làm việc nhóm, trao đổi nhiều hơn với đồng nghiệp, GV cần có cơ hội học tập, phát triển và phản ánh về các phương pháp giảng dạy mới, kiến thức mới họ được tiếp cận, để từ đó GV có cách làm việc hiệu quả hơn với SV. Nghiên cứu của Glatthorn (1995) cho rằng, PTCM là sự phát triển nghề nghiệp của cá nhân trong hoạt động chuyên môn. Đối với lĩnh vực giáo dục, phát triển chuyên môn ĐNGV là sự phát triển về nghề nghiệp ĐNGV dựa trên quá trình học tập, nghiên cứu, giảng dạy, tích lũy kiến thức và kinh nghiệm một cách có hệ thống. 11 Theo David Kember và Lyd Gow (1992) thì để phát triển đội ngũ GV cần phải nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy thông qua các công tác lập kế hoạch, biên soạn đề cương; thiết lập mối liên hệ SV và tài liệu học tập thông qua các hình thức, phương pháp dạy học; kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học Theo nghiên cứu của Allans Ellis và Ranata Phelps (2000) thì cho rằng hình thức dạy học hợp tác là một phương cách phát triển ĐNGV – và là một năng lực cốt lõi của người GV Theo các tác giả An Lieberman và Phi Delta Kapan (1995) thì nhà trường phải hỗ trợ ĐNGV nâng cao chất lượng giảng dạy thông qua việc xây dựng nội dung bồi dưỡng GV; đánh giá GV; tạo điều kiện để GV trao đổi nghiệp vụ với các đồng nghiệp trong và ngoài nước; thu hẹp khoảng cách giữa các thế hệ Tóm lại, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các HĐPTCM đội ngũ GV trên thế giới; đã phân tích chi tiết, khá toàn diện những nội dung thiết yếu để đẩy mạnh các HĐPTCM đội ngũ GV.
Từ những nghiên cứu trên, ta có thể tóm lược lại chuyên môn của GV trong thời đại ngày nay – thời đại của nền kinh tế số, phải được phát triển trên dựa trên nhiều yếu tố khác nhau chứ không đơn thuần chỉ cần có kiến thức chuyên môn thuần túy; cụ thể những nội dung PTCM giảng viên mang tính cấp thiết bao gồm: 1) Phát triển về nhận thức và trách nhiệm nghề nghiệp; 2) Phát triển kiến thức chuyên môn; 3) Phát triển nghiệp vụ sư phạm; 4) Phát triển kỹ năng mềm và kỹ năng hỗ trợ khác Trong thời đại kinh tế số hiện nay, đặc biệt khi thế giới trải qua đại dịch CoVid- 19 mang tính toàn cầu, khiến người với người phải cách ly, nhà với nhà phải cách ly, làng với làng phải cách ly, tỉnh với tỉnh phải cách ly, nước với nước phải cách ly thì chúng ta đã tận mắt được chứng kiến sự bùng nổ về ứng dụng công nghệ thông tin 12 vào mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục, cụ thể là đóng học phí trực tuyến, học tập trực tuyến, hội họp trực tuyến, tọa đàm trực tuyến, tổ chức thực hiện trực tuyến, điều hành trực tuyến, và kiểm tra đánh giá cũng trực tuyến. Theo tác giả Cox và đồng sự (1999) thì công nghệ thông tin là yếu tố quan trọng cải thiện động lực giảng dạy của GV, cụ thể: công nghệ thông tin giúp bài giảng hấp dẫn, trực quan hơn; tăng thời gian trải nghiệm; mở ra nhiều cơ hội phát triển sự nghiệp. Tổ chức Global Teacher Prize (https://www.org/) thành lập 2014 - ghi nhận sự sáng kiến và tôn vinh những biện pháp, mô hình, hình thức, hợp tác trong lĩnh vực giảng dạy đặc biệt xuất sắc, với trị giá giải thưởng hàng năm là 1 triệu USD – đã lựa chọn 10 sáng kiến trong số 30.000 sáng kiến trên toàn cầu, trong đó phải kể đến sáng kiến của cô Hà Ánh Phượng (Việt Nam) đã ứng dụng công nghệ thông tin để tạo ra lớp học không biên giới để kết hợp học sinh của trường mình với trường khác trên toàn thế giới và đặc biệt nữa đó là những học sinh khó khăn ở 4 châu lục Phi, Âu, Á, Mỹ; đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế bài học và tham gia phát triển chuyên môn hàng tuần. Còn Carlo Mazzone – đang giảng dạy trường ITI G.
Lucarelli, Benevento, Italy đã tạo ra sự đổi mới lớn bằng việc biên soạn tài liệu giảng dạy dựa trên kinh nghiệm dày dạn về công nghệ thông tin – thiết lập một số nền tảng học tập điện tử và QL công việc, đánh giá, kiểm tra kết quả học tập của người học Theo nghiên cứu của Richard F.Elmore và cộng sự (2004) cho rằng sự phối hợp nhiều hình thức phát triển chuyên môn như học tập trực tuyến; quan sát, học tập từ trường khác; hay nghiên cứu độc lập gắn với phát triển chuyên môn; hay hợp tác trong giảng dạy giữa các trường sẽ giúp GV có động lực hơn; đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ kiến thức chuyên môn cũng như các kỹ năng hỗ trợ khác 13 Nhóm các tác giả Linda M, Rebecca A, Kuller, Barbara A(2005) chỉ ra QL phát triển ĐNGV cần chú trọng công tác tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và thực hiện chức năng kiểm tra đánh giá Như vậy từ các nghiên cứu trên thế giới, chúng ta có thể rút ra kết luận PTCM đội ngũ GV nhận được sự quan tâm rất lớn, tập trung khai thác và bồi dưỡng những năng lực, phẩm chất cần thiết của GV trong thời đại số hiện nay; với rất nhiều hình thức, phương thức khác nhau như học tập trực tuyến, học tập từ quan sát các trường khác, học tập qua nghiên cứu độc lập, học tập từ hợp tác với các nhóm GV giàu kinh nghiệm hay thông qua giảng dạy trực tuyến phối hợp nhiều nhóm GV và nhóm học sinh từ các quốc gia khác nhau; từ đó GV có cơ hội bổ sung và phát triển chuyên môn một cách toàn diện.