Chương 1 nêu lên tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài, đồng thời chỉ rõ mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài. Chương 2: Một số vấn đề lý luận về phát triển chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Chương 2 cung cấp những cơ sở lý luận chung về phát triển chuỗi cung ứng như các khái niệm chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi cung ứng, phát triển chuỗi cung ứng; nội dung của phát triển chuỗi cung ứng và các yếu tố môi trường bên trong, bên ngoài tác động đến sự phát triển chuỗi cung ứng. Chương 3: Thực trạng phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty Cổ phần Mavin Austfeed Trong chương 3, tác giả phân tích thực trạng phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm TĂCN của CTCP Mavin Austfeed thông qua kết quả khảo sát nhân viên của công ty. Từ đó chỉ ra những thành công và hạn chế của công ty trong công tác phát triển chuỗi cung ứng này.
Chương 4: Một số giải pháp phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty Cổ phần Mavin Austfeed Sau khi phân tích thực trạng, điểm mạnh và điểm yếu, tác giả tổng hợp những định hướng tương lai của công ty cho chuỗi cung ứng sản phẩm TĂCN và dựa vào đó để đề xuất những giải pháp phát triển chuỗi cung ứng của công ty theo hướng bền vững. 6 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP 2. Các khái niệm và vấn đề liên quan đến phát triển chuỗi cung ứng 2. Các khái niệm về phát triển chuỗi cung ứng 2.
Khái niệm chuỗi cung ứng Khái niệm về chuỗi cung ứng được nhắc đến lần đầu tiên vào giai đoạn đầu những năm 90 của thế kỷ 20 bởi Christopher (1992). Trong đó, chuỗi cung ứng là một mạng lưới các tổ chức tham gia trong chuỗi liên kết từ “thượng nguồn” đến “hạ nguồn”, giá trị được tạo ra dưới dạng sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua các quy trình và hoạt động khác nhau trong chuỗi cung ứng (Christopher, 1992). Sau 30 năm, đã có nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra nhiều quan điểm về chuỗi cung ứng như “một mạng lưới các cơ sở vật chất dùng để thu mua nguyên liệu đầu vào, sản xuất ra hàng hóa trung gian và sản phẩm cuối cùng, phân phối sản phẩm đến tay khách hàng” (Lee và Billington, 1992); “một tập hợp các công ty có sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua luân chuyển nguyên vật liệu, sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng” (La Londe và Masters, 1994); “một tập hợp từ ba công ty trở lên trực tiếp liên kết với một hay nhiều dòng chảy của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ nguồn đầu vào tới khách hàng” (Mentzer và cs, 2001); hay “một mạng lưới toàn cầu của các tổ chức hợp tác nhằm tăng cường dòng chảy của hàng hóa và thông tin giữa các nhà cung cấp và khách hàng với mức giá thấp nhất và thời gian nhanh nhất. Có thể thấy nhiều quan điểm nghiên cứu đưa ra các khác niệm khác nhau về chuỗi cung ứng, tuy nhiên với góc độ tiếp cận nghiên cứu đề tài và sự phù hợp với các nội dung phân tích thực trạng chuỗi cung ứng của doanh nghiệp.
Chuỗi cung ứng được hiểu là: “Chuỗi cung ứng là tập hợp các doanh nghiệp hoặc tổ chức tham gia trực tiếp và gián tiếp vào các quá trình tạo ra, duy trì và phân phối một loại sản phẩm nào đó cho thị trường”. Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Quản trị chuỗi cung ứng cũng được các học giả và các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau trong suốt thời gian phát triển chuỗi cung ứng như “Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp chiến lược, có hệ thống của các chức năng kinh doanh truyền thống và các chiến thuật xuyên suốt các chức năng kinh doanh này trong một công ty cụ thể và giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, nhằm mục đích cải thiện hiệu quả hoạt động lâu dài của từng công ty và toàn chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, với góc độ tiếp cận chuỗi cung ứng của doanh nghiệp, đề tài này sử dụng khái niệm quản trị chuỗi cung ứng như sau: “Quản trị chuỗi cung ứng là quá trình hợp tác (hoặc tích hợp) các doanh nghiệp và hoạt động khác nhau vào quá trình tạo ra, duy trì và phân phối một loại sản phẩm nhất định tới thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng và mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Khái niệm phát triển chuỗi cung ứng Phát triển chuỗi cung ứng dựa trên việc thiết kế chuỗi cung ứng phù hợp với chiến lược cạnh tranh, xuyên suốt đầu cuối, có tính đơn giản và thống nhất; trong đó, cách thức, mức độ liên kết chuỗi và dạng chuỗi cung ứng đóng vai trò quan trọng trong định hình cấu trúc chuỗi cung ứng; cuối cùng là thiết kế và lựa chọn chiến lược chuỗi cung ứng giúp thực hiện hóa vị thế cạnh tranh của chuỗi cung ứng trên thị trường.
(phát triển từ An Thị Thanh Nhàn, 2021) Theo đó, cấu trúc chuỗi cung ứng giúp doanh nghiệp hình dung khái quát các mối quan hệ với đối tác, vị trí phân bổ nguồn lực, những công việc cần hoàn thành và phương thức, công cụ để hoàn thành mục tiêu quản trị chuỗi cung ứng. Cấu trúc chuỗi cung ứng phải đồng bộ với mục tiêu kinh doanh nhằm đạt được sự vận hành trơn tru, tối đa hóa được tổng giá trị chuỗi cung ứng và tái cấu trúc nhanh chóng khi cần thiết. Liên kết chuỗi cung ứng là những hình thức phối hợp hoạt động giữa các đơn vị tham gia để thực hiện mục tiêu quản trị chuỗi cung ứng. Liên kết chuỗi giúp giải quyết các mâu thuẫn giữa các chủ thể riêng biệt trong chuỗi cung ứng và mang lại những lợi ích về mặt tài chính và chiến lược như sau: - Giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và tận dụng công nghệ, bí mật của đối tác chiến lược.
Nhờ đó giúp giảm thiểu chi phí đầu tư. - Hợp tác giúp tăng năng lực tài chính của các doanh nghiệp. - Giúp xóa bỏ rào cản thương mại, luật pháp giúp tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Bàn về chiến lược, chiến lược chuỗi cung ứng là chiến lược cấp chức năng, là các định hướng và mục tiêu cho quản trị chuỗi cung ứng trong dài hạn.
Chiến lược chuỗi cung 8 ứng mặc dù có vị trí ngang bằng với các chiến lược chức năng khác trong doanh nghiệp nhưng nó liên quan đến các tổ chức bên ngoài là các chủ thể khác trong chuỗi cung ứng và lệ thuộc vào vị thế của công ty trong chuỗi. Mục tiêu của chiến lược chuỗi cung ứng là tối đa hóa toàn bộ giá trị đầu ra chuỗi cung ứng, được tính bằng sự chênh lệch giữa doanh thu sản phẩm với chi phí trong toàn bộ chuỗi để tạo ra sản phẩm đó. Giá trị này được thể hiện qua mức độ đáp ứng và hiệu quả đáp ứng. Trong đó, mức độ đáp ứng tỷ lệ thuận với giá trị mang lại cho khách hàng và được đo bằng mức độ hài lòng của khách hàng.
Hiệu suất chuỗi cung ứng là khả năng đạt được một mức độ dịch vụ cung ứng tương ứng với một mức chi phí cụ thể. Nếu mức chi phí này thấp thì khách hàng có thể hiện sự phục vụ phù hợp với chi phí bỏ ra nhỏ hơn. Vai trò của chuỗi cung ứng Hình 2. Sơ đồ chuỗi cung ứng Nguồn: An Thị Thanh Nhàn, 2021 Chuỗi cung ứng không chỉ là một phần quan trọng của hoạt động kinh doanh mà còn đóng vai trò quyết định trong việc quản lý hiệu suất, chi phí, và sự cạnh tranh của doanh nghiệp.
Với sự phức tạp ngày càng tăng của thị trường và tác động của các yếu tố toàn cầu, vai trò của chuỗi cung ứng ngày càng được đề cao, cụ thể: Chuỗi cung ứng giúp tối ưu hóa hiệu suất, từ việc quản lý các nguồn nguyên liệu đến quá trình sản xuất, chuỗi cung ứng giúp đảm bảo rằng sản phẩm được sản xuất đúng quy cách, đúng thời gian, và với chi phí thấp nhất. Chuỗi cung ứng đóng vai trò quyết định trong việc quản lý chi phí và tài nguyên. 9 Bằng cách tối ưu hóa quá trình vận chuyển, lưu trữ và quản lý hàng tồn kho, doanh nghiệp có thể giảm thiểu lãng phí và tối ưu hóa sử dụng tài nguyên. Điều này giúp cải thiện lợi nhuận và bảo vệ môi trường.
Chuỗi cung ứng chịu trách nhiệm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ đúng lúc và đúng địa điểm cho khách hàng. Điều này làm tăng giá trị mà khách hàng nhận được và đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách hiệu quả. Ngoài ra, việc xây dựng một chuỗi cung ứng phù hợp cũng giúp doanh nghiệp tăng khả năng linh hoạt và quản lý hiệu quả các rủi ro nhờ có được các phương án thay thế hiệu quả. Nội dung của phát triển chuỗi cung ứng 2.
Cấu trúc chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng được tạo thành nhờ sự liên kết giữa nhiều chủ thể khác nhau trong quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm tới tay người tiêu dùng. Cấu trúc chuỗi cung ứng bao gồm các chủ thể (nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, khách hàng) và các dòng chảy (dòng vật chất, dòng tiền thông tin, dòng tiền tệ), được thể hiện trong hình sau: Hình 2. Cấu trúc chuỗi cung ứng Nguồn: Wisner và cs, 2018 10 1. Các dòng chảy trong chuỗi cung ứng Hình 2.2 đã mô hình hóa cấu trúc của một chuỗi cung ứng với ba dòng chảy bao gồm: Dòng hàng hóa/dịch vụ (dòng vật chất), dòng tiền tệ và dòng thông tin.
Dòng vật chất là dòng lưu thông và chuyển hóa về mặt vật chất từ nguyên liệu thô từ nhà cung cấp đầu tiên cho tới nhà sản xuất, quá trình phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Đôi khi sẽ bao gồm cả dòng logistics ngược nếu sự vận hành của dòng vật chất xuôi thiếu chính xác. Dòng thông tin là dòng đi trước và kết thúc sau cùng so với dòng vật chất và dòng tiền tệ. Dòng thông tin giúp kết nối các thành viên trong chuỗi cung ứng, nhờ đó mà các dòng vật chất và tiền tệ diễn ra một cách suôn sẻ.
Dòng tiền tệ là dòng tiền thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Dòng tiền tệ liên quan trực tiếp đến chi phí chuỗi cung ứng và giá cả hàng hóa, dịch vụ. Từ đó mà có sự liên quan mật thiết tới lợi thế cạnh tranh của chuỗi cung ứng trên thị trường.