Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay không áp dụng biện pháp đảm bảo đối với DNVVN của Ngân hàng Thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay không áp biện pháp đảm bảo đối với DNVVN tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng. Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay không áp biện pháp đảm bảo đối với DNVVN tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÔNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ NHTM 1.1 Khái quát về NHTM Theo Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) ban hành và có hiệu lực năm 2010 quy định: “TCTD là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động NH.
TCTD bao gồm NH, TCTD phi NH, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.” Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình NH bao gồm Ngân hàng Thƣơng mại (NHTM), NH chính sách và NH hợp tác xã. Nhƣ vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, chỉ có NHTM là loại hình NH đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Do đó, trong khuôn khổ của khóa luận chỉ đề cập đến NHTM và các hoạt động NH của nó. Theo Cổng thông tin của NHNN Việt Nam thống kê tính đến ngày 31/12/2017 có tổng cộng tất cả 35 NH TMCP và NHTM Nhà nƣớc đang hoạt động.
Trong đó chỉ có 12 NHTM đang đƣợc niêm yết trên cả hai sàn Chứng khoán TP. Căn cứ vào bảng cân đối kế toán từ báo cáo tài chính của các NHTM đƣợc công bố trên thị trƣờng chứng khoán trong giai đoạn từ 2015 đến năm 2017, ta có thể đánh giá đƣợc tổng tài sản hay tổng nguồn vốn của các NHTM đƣợc niêm yết có xu hƣớng gia tăng. Bên cạnh đó, NH TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BID) có tổng tài sản cao nhất năm 2017 là 1,202,283,843 triệu đồng trong khi NH TMCP Quốc Dân có tổng tài sản thấp nhất là 71,841,565 triệu đồng trong thời điểm nhƣ trên (Phụ lục 2). Đồng thời, theo phụ lục 2 ta cũng nhìn thấy đƣợc cấp tín dụng chiếm số lƣợng cao nhất trong cơ cấu tài sản trong khi tiền gửi từ khách hàng chiếm thì chiếm số lƣợng cao nhất trong cơ cấu nguồn vốn của các NHTM đƣợc niêm yết trong giai đoạn 2015 – 2017.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM Một NHTM có thể thực hiện những hoạt động NH cơ bản theo quy định i i i i i i i i i i i i i i của i Luật Các tổ chức tín dụng (2010) sau đây: i i i i i i i i i 1) nhận tiền gửi; 2) cấp tín dụng; và 3) cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.1 Nhận tiền gửi i i i Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dƣới hình thức i i i i i i i i i i i i i i i tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát i i i i i i i i i i i i i i i hành chứng chỉ tiền i i i i gửi, i kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy i i i i i i i i i i i i i i i i i i i đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận.
i i i i i i i i i i i Có thể hiểu một cách đơn giản đây là hoạt động huy động vốn của NH từ những nguồn tiền chƣa đƣợc sử dụng trong nền kinh tế với cam kết hoàn trả và trả lãi đúng hạn. Đây chính là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn tối thiểu là khoảng 60% và tối đa là khoảng 90% trong tổng nguồn tiền của NH (Phụ lục 3). Khi một NH bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng.2 Cấp tín dụng Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Khi nói đến hoạt động tín dụng của các NHTM, ngƣời ta thƣờng nghĩ tới cho vay, và đôi khi đồng nhất thuật ngữ cho vay với thuật ngữ tín dụng. Thật ra, khái niệm cho vay hẹp hơn tín dụng. Có thể nói cho vay là hoạt động quan trọng nhất của NHTM. NHTM huy động vốn chủ yếu để cho vay nhằm thu đƣợc lợi Trang 2 nhuận do chênh lệch lãi suất, do đó có cho vay đƣợc hay không là vấn đề mà mọi Trang 3 NHTM đều phải tìm cách giải quyết.
Đây chính là hoạt động chiếm tỷ trọng cao nhất trên tổng nguồn vốn của các NHTM cụ thể là chiếm ít nhất 45% và nhiều nhất là hơn 70% theo bảng thống kê đƣợc tổng hợp từ báo cáo tài chính của các NHTM đƣợc niêm yết trên sàn CK hiện nay (Phụ lục 4). Nghiệp vụ cho vay có thể đƣợc phân loại bằng nhiều cách: theo thời gian có cho vay ngắn hạn (thời hạn tối đa 01 năm), cho vay trung hạn (thời hạn trên 01 năm và tối đa 05 năm) và dài hạn (thời hạn trên 05 năm); theo hình thức bảo đảm có cho vay có bảo đảm (cho vay thế chấp), và cho vay không áp dụng biện pháp đảm báo (cho vay KBĐ); theo mục đích có cho vay phục vụ nhu cầu đời sống đối với khách hàng cá nhân, và cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh đối với cả khách hàng cá nhân và khách hàng pháp nhân.3 Cung ứng các hoạt động dịch vụ thanh toán Cung ứng dịch vụ dịch vụ thanh toán là việc cung ứng phƣơng tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ NH, thƣ tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Tại Việt Nam hiện nay, các NHTM đang cung cấp cho ngƣời tiêu dùng nhiều sản phẩm dịch vụ tích hợp với việc thanh toán qua thẻ ngân hàng đa dạng và phong phú với mục đích tiết kiệm thời gian và tiện lợi. Theo báo cáo tài chính đƣợc công bố của các NHTM niêm yết trên sàn chứng khóa trong giai đoạn 2015 – 2017, có thể nhìn chung có thể đánh giá đƣợc thu nhập từ các hoạt động dịch vụ đang có xu hƣớng tăng trƣởng nhanh.
Cụ thể tốc độ gia tăng về thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng cao nhất khoảng 703.3% (TPB) trong khi đó tại mã CK EIB thuộc NH TMCP Xuất nhập khẩu chỉ đạt 9.05% trong thời gian 3 năm từ năm 2015 đến năm 2017 (Phụ lục 5).2 TỔNG QUAN VỀ DNVVN 1.1 Khái niệm về DNVVN Theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/03/2018 về Quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNVVN có xác định rõ về tiêu chí để phân biệt các DNVVN theo lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc theo lĩnh vực sử dụng nhiều nhân công có bảo hiểm xã hội (BHXH) cao nhất hoặc lĩnh vực có tổng doanh thu chiếm tỷ lệ cao nhất của doanh nghiệp. Theo đó, khái niệm về DNVVN đƣợc phân theo tiêu chí quy mô đƣợc phân thành 3 nhóm nhƣ sau DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa. Cụ thể các DNVVN đƣợc xác định nhƣ sau dựa theo nghị định nêu trên: Số lao động Tổng Doanh Tổng Nguồn Lĩnh vực có BHXH thu của năm vốn Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản và < 10 ngƣời < 3 tỷ đồng < 3 tỷ đồng Lĩnh vực DN siêu nhỏ Công nghiệp và xây dựng Thƣơng mại < 10 ngƣời < 10 tỷ đồng < 3 tỷ đồng và dịch vụ Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản và DN nhỏ < 100 ngƣời < 50 tỷ đồng < 20 tỷ đồng Lĩnh vực Công nghiệp và xây dựng Trang 5 Thƣơng mại < 50 ngƣời < 100 tỷ đồng < 50 tỷ đồng và dịch vụ Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản và <200 ngƣời < 200 tỷ đồng < 100 tỷ đồng Lĩnh vực DN vừa Công nghiệp và xây dựng Thƣơng mại < 100 ngƣời < 300 tỷ đồng < 100 tỷ đồng và dịch vụ 1.2 Đặc điểm của các DNVVN Thứ nhất, DNVVN chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Theo TCTK, nhóm doanh nghiệp này chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp, sử dụng trên 50% tổng số lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho 65% lƣợng lao động ở khu vực tƣ nhân, đóng góp hơn 45% GDP cả nƣớc.
Thứ hai, khả năng tiếp cận vốn của các DNVVN ở các nƣớc Đông Nam Á phụ thuộc chủ yếu vào các đặc điểm nhƣ sau quy mô hoạt động kinh doanh, số năm hoạt động, lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, mức độ phát triển của quốc gia, vòng xoay vốn lƣu động và loại hình của doanh nghiệp theo phƣơng pháp sử dụng mô hình xác suất tuyến tính đƣợc thực hiện dựa trên số liệu của các DNVVN tại 8 quốc gia thuộc Đông Nam Á trong đó có Việt Nam (Harvie 2013). Bên cạnh đó, tại Việt Nam đã có một nghiên cứu dựa vào theo phƣơng pháp phân tích tần suất đã đƣa ra đƣợc kết luận về vấn đề tiếp cận nguồn tài chính nhƣ sau: “do quy mô nhỏ về vốn, nên các DNVVN gặp một số khó khăn ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh bao gồm: hạn chế về khả năng mở rộng sản xuất, đầu tƣ đổi mới công nghệ, mở rộng thị trƣờng; hạn chế về khả năng tiếp cận đất đai, các nguồn vốn; và hạn chế khả năng tiếp cận thông tin.” Trang 6 Những hạn chế trên Trang 7 là nguyên nhân chính dẫn đến khả năng phát triển và cạnh tranh của các DNVVN trên thị trƣờng. Thứ ba, với nguồn vốn đầu tƣ ban đầu thƣờng không lớn, tài sản chủ yếu của các DNVVN là hàng tồn kho, tài sản cố định bao gồm các máy móc, thiết bị, bất động sản để vận hành DN và vốn lƣu động để lƣu thông hoạt động sản xuất kinh doanh.