phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung của luận văn được bố cục làm 3 phần: Phần 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn về vấn đề quản lý hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại. Phần 2: Thực trạng quản lý hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Sơn La. Phần 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quản lý hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Sơn La. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Cơ sở lý thuyết về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1.1 Các khái niệm: - Khái niệm ngân hàng Theo Phan Thu Hà (2009) thì: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức KD nào trong nền kinh tế” [6]. Theo tác giả, Phùng Thị Lan Hương (2020) thì: “Ngân hàng là một DN đặc biệt KD về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng (cho vay, chiết khấu, bảo lãnh…) cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan”.[5] - Ngân hàng thương mại: NHTM đã có lịch sử,“tồn tại và phát triển hàng trăm năm trên thế giới. NHTM gắn liền với sự phát triển của kinh tế trong mỗi quốc gia.
Hệ thống NHTM phát triển đã có những tác động rất lớn và quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế, ngược lại một nền kinh tế của các quốc gia khi có sự phát triển mạnh mẽ tới một giai đoạn cao nhất thì cũng có mặt của các NHTM cũng được tăng cường và NHTM đã trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.” Cho tới thời gian hiện nay thì lịch sử phát triển của các NHTM tại mỗi quốc gia khác nhau đều có những khái niệm khác, cụ thể: “Từ khái niệm được đưa ra ở trên, có thể hiểu: NHTM là một trong những chế định tài chính, NHTM có đặc trưng rõ ràng là việc cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, thực hiện giao dịch cho vay, cung cấp các dịch vụ thanh toán.”Bên cạnh đó, các NHTM tổ chức cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm tạo doanh thu và phục vụ mọi khách hàng. + Hoạt động cho vay của NHTM: 6 Theo Phan Ngọc Chính (2023) thì “Cho vay được hiểu là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (Ngân hàng thương mại) “sang người sử dụng (người vay – khách hàng), sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”.” - Khái niệm cho vay khách hàng DN của NHTM Từ những phân tích, các khái niệm ở trên thì khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu thông qua các cam kết dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian quy định Trong hoạt động cho vay khách hàng DN thì các NHTM có các hình thức cho vay khác nhau, tuy nhiên, hình thức cho vay phố biến nhất là hình thức vay thấu chi, vay bảo lãnh tín dụng, vay hạn mức tín dụng,…Ngoài ra, phân loại theo thời hạn thì các hình thức phổ biến trong hoạt động cho vay khách hàng DN gồm: vay ngắn hạn, vay trung và dài hạn.2 Đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại “NHTM được coi là một loại hình DN đặc biệt, NHTM kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, dịch vụ ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHTM, hoạt động cho vay là hoạt động mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho khối các NH nói chung, NHTM nói riêng. Do đó, hoạt động cho vay DN của NHTM có những đặc điểm sau:” Thứ nhất, khách hàng là các tổ chức DN, được thành lập bởi cơ quan nhà nước quyết định, có trụ sở, con dấu, tài khoản và người chịu trách nhiệm trước PK, đây là đặc điểm chính trong hoạt động cho vay khách hàng DN của NHTM; Thứ hai, đối tượng khách hàng của NHTM là đa dạng, các DN hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
Chính vì vậy, nhu cầu vốn của DN để các NHTM đáp ứng cho khách hàng cũng rất đa dạng và phong phú, từ cho vay mua sắm thiết bị, trong lĩnh vực SXKD đối với các DN sản xuất cho tới vay lĩnh vực đầu tư với các DN kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản, cao su, cafe. Thứ ba, so với cho vay các nhóm khách hàng khác thì cho vay DN có hệ thống thông tin rõ ràng, cụ thể hơn bởi các DN đều có hệ thống thông tin kế toán thông qua hoạt động báo cáo tài chính. Thứ tư, trong hoạt động cho vay khách hàng DN thì thủ tục và quy trình cho vay chặt chẽ, phức tạp hơn vì tính pháp lý của DN đòi hỏi hơn nhiều so với nhóm 7 khách cá nhân. Ngoài ra, khi cho vay khách hàng DN, đối với khoản vay lớn và tài sản đảm bảo thường đa dạng, có tính chất phức tạp cũng khó khăn trong việc định giá hơn bởi hầu hết tài sản DN thường thế chấp cho ngân hàng là nhà xưởng, nhà máy, thiết bị máy móc phục vụ hoạt động sản xuất của các DN.
Thứ năm, trong hoạt động quản lý rủi ro thì cho vay khách hàng DN thường để lại tổn thất lớn cho NHTM. Chính vì vậy, các lãnh đạo, quản lý của các NHTM rất quan tâm đến quản trị rủi ro các khoản cho vay khách hàng DN. Thứ sáu, đối với cho vay khách hàng DN thì nguồn trả nợ của DN là tới từ nhiều hoạt động khác nhau, trong đó các nguồn tài chính có tính thường xuyên; 1.3 Vai trò của hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Thứ nhất, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hóa phát triển Đối với các DN trong quá trình SXKD, để duy trì hoạt động SXKD của DN được liên tục, không nứt gãy hoặc gián đoạn thì DN đòi hỏi vốn của họ phải đồng thời tồn tại trong cả 3 giai đoạn:“(i) dự trữ, (ii) sản xuất, (iii) lưu thông. Ngoài ra, với mục tiêu tăng vốn mở rộng hoạt động sản xuất, phát triển thị trường đối với từng DN thì nhu cầu về nguồn vốn là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của DN được đặt ra.
Thứ hai, góp phần ổn định tiền tệ, giá cả “Khi các NHTM thực hiện chức năng của mình là tập trung, phân phối lại vốn tiền tệ, huy động nguồn vốn nhãn rỗi trong xã hội, cho vay DN đã trực tiếp làm giảm đi khối lượng tiền tệ tồn đọng trong lưu thông. Ngoài ra, cho vay DN đã mở rộng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Thứ ba, góp phần ổn định đời sống, tạo việc làm, ổn định xã hội Vai trò của NHTM trong việc góp phần ổn định đời sống, tạo mới việc làm, ổn định trật XH. Đây được cho là hệ quả tất yếu của thị trường trong quá trình phát triển KT – XH nói chung, việc làm, thu nhập và ổn định xã hội dưới sự quản lý của Nhà nước là quy luật chung của các nền kinh tế nói chung; Thứ tư, đòn bẩy kinh tế hỗ trợ sự tồn tại, phát triển của DN “Sinh lời của nguồn vốn, đồng tiền đều là những mong muốn của những chủ thể nắm giữ nó.
Trên thực tế, chủ thể có vốn tạm thời nhàn rỗi, sẵn sàng cho KH vay để kiếm lãi, còn đối với DN cũng không ngoài mục đích sinh lời của vốn mà 8 cần vay thêm tiền để mở rộng SXKD của DN.”NHTM giữ vai trò là trung gian dẫn vốn, NH, NHTM sẽ giải quyết được những mâu thuẫn tồn tại này. Thứ năm, góp phần tăng tiềm lực tài chính, nâng cao khả năng cạnh tranh DN Việc cạnh tranh trên thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại, phát triển của các DN. DN trong quá trình phát triển của mình, viẹc tạo dựng thương hiệu và phát triển thị trường là một thử thách lớn đối với mỗi DN, đặc biệt là các DN khởi nghiệp trong quá trình cạnh tranh trên thương trường. DN khi đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo vị thế DN trước khách hàng, công chúng thì ngoài nguồn vốn chủ sở hữu DN, DN phải thường xuyên tìm biện pháp huy động vốn khác trong thành phần kinh tế, trong đó có vốn vay ngân hàng được coi là nguồn vốn bổ sung chủ yếu và có tính khả thi cao.
Thứ sáu, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN Bản chất NHTM là DN kinh doanh, tuy nhiên NHTM là trường hợp kinh doanh “đặc biệt” trong việc kinh doanh tiền tệ vận hành theo cơ chế: “vay để cho vay”, nghĩa là, các ngân hàng cũng phải đi vay, phải đi vay và các NH, NHTM phải thực hiện hoạt động huy động vốn kèm theo quy định thời hạn trả. Do đó, trước khi thực hiện giao kết hợp đồng vay vốn, các ngân hàng tiến hành việc thẩm định tình hình hoạt động SXKD, năng lực tài chính của DN rất chặt chẽ theo quy trình, quy định. Ngoài ra, các NH sẽ cho vay là nhóm các KH có kết quả hoạt động KD ổn định, tài chính lành mạnh, đảm bảo năng lực trả nợ đảm bảo khi đến hạn trả lãi, nợ. Phân loại cho vay khách hàng doanh nghiệp a) Căn cứ vào thời gian cho vay Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ ngày tiếp theo của ngày tổ chức tín dụng giải ngân vốn vay cho khách hàng cho đến thời điểm khách hàng phải trả hết nợ gốc và lãi tiền vay theo thỏa thuận của tổ chức tín dụng và khách hàng.
Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn cho vay là ngày lễ hoặc ngày nghỉ hàng tuần, thì chuyển sang ngày làm việc tiếp theo. Đối với thời hạn cho vay không đủ một ngày thì thực hiện theo quy định tại Bộ luật dân sự về thời điểm bắt đầu thời hạn.