CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN cứu, cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỒ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tống quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan về phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM Nghiên cứu về phát triển hoạt động cho vay, cho vay doanh nghiệp vừa và nhở của các NHTM Việt Nam được nhiều nhà nghiên cứu dưới dạng bài viết như bài báo, bài nghiên cứu, luận văn thạc sỹ, tiến sỹ. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này có thể kể tới: Nguyễn Thị Minh Huyền (2020) với đề tài ‘Thát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Quân đội” đà hệ thống hoá các vấn đề có liên quan đến phát triển hoạt đông cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại; Phân tích thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng TMCP Quân đội thông qua những số liệu liên quan trong giai đoạn 2017-2019; Đánh giá và chỉ ra được những hạn chế của ngân hàng ảnh hưởng đến quá trình phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp; Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển cho vay DNNVV tại Ngân hàng TMCP Quân đội trong thời gian tới.
Nguyễn Thuỳ Trang (2017) với đề tài “Phát triển hoạt động cho vay DNNVV tại Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam chi nhánh Quảng Ninh” đã thu thập các số liệu, tài liệu phân tích đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đối với DNNVV tại Vietcombank Quảng Ninh. Nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân hạn chế của công tác phát triển hoạt động cho vay DNNVV tại Vietcombank Quảng Ninh, từ đó đề ra các giải pháp phát triển hoạt động cho vay phù hợp cho Vietcombank chi nhánh Quảng Ninh đối với đối tượng cho vay DNNVV. Lê Thị Việt Hà (2017) với đề tài “Phát triển cho vay doanh nghiệp vừa và 4 nhỏ tại Ngân hàng Đâu tư và Phát triên Việt Nam - Chi nhánh Thanh Xuân” đã thu thập các số liệu, tài liệu phân tích làm rõ thực trạng về hoạt động về cho vay, phát triển hoạt động cho vay của các DNNVV tại BIDV Thanh Xuân, từ đó chỉ ra những kết qua đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế. Căn cứ vào những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế, và định hướng phát triển cho vay của BIDV chi nhánh Thanh Xuân, nghiên cứu đã đưa ra 6 giải pháp phù hợp với thực tế phát triển cho vay đối với DNNVV.
Đỗ Anh Tuấn (2018) trong đề tài “Phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - chi nhánh Hai Bà Trưng”, đã nghiên cứu lý luận, phân tích đánh giá thực trạng hoạt động cho vay DNNVV tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - chi nhánh Hai Bà Trưng, sau đó chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của nhừng hạn chế trong công tác cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trên cơ sở định hướng phát triển cho vay đối với DNNVV tại Vietinbank chi nhánh Hai Bà Trưng, luận văn đã đề xuất một số giải pháp khuyến khị nhằm phát triển cho vay đối với DNNVV trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội. Lương Sơn Nam (2017) với đề tài “Phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP phát triển thành phố Hồ Chí Minh - Chi nhánh Hoàn Kiếm” đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận về đặc điểm, vai trò của DNNVV, về hoạt động cho vay nói chung, cho vay đối với DNNVV nói riêng. Trên cơ sở số liệu, tài liệu thu thập được nghiên cứu đã đánh giá về thực trạng phát triển cho vay DNNVV giai đoạn 2013-2016, những kết quả đạt được và những khó khăn hạn chế, nguyên nhần của những hạn chế khó khăn đó trong quá trình hoạt động từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển hoạt động cho vay DNNVV tại HDBank - Chi nhánh Hoàn Kiếm trong thời gian tới.
Nghiên cứu “Mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - chi nhảnh Sơn La” của Lê Lan Hương (2018) luận văn đã hệ thống hóa được những lý luân cơ bản về mở rộng hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, phân tích 5 được thực trạng hoạt động mở rộng cho vay đôi với doanh nghiệp từ đó đê xuât một số giải pháp nhằm mở rộng cho vay doanh nhiệp nhở và vừa, phát huy điểm mạnh, hạn chế điểm yếu để góp phần mở rộng cho vay đối với NHTM Công thương Việt Nam - chi nhánh Sơn La. Tuy nhiên, luận văn chưa phân tích đánh giá toàn diện mới chỉ sử dụng các số liệu thứ cấp phân tích đánh giá thực trạng mở rộng cho vay của NHTM công thương Việt Nam- chi nhánh Sơn La mà không đánh giá tù' phía khách hàng. Và ngoài ra có một số nghiên cứu liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu như các nghiên cứu: Nguyễn Cảnh Hiệp (2019) với nghiên cứu “Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với nông nghiệp công nghệ cao trong giai đoạn hiện nay ”, bài viết của tác giả đã tổng quan phân tích về các chính sách tín dụng của Nhà nước áp dụng về tín dụng đối với hoạt động nông nghiệp công nghệ cao trong thời gian vừa qua trên cơ sở đó chỉ ra những tồn tại về hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh đối với hoạt động nông nghiệp công nghệ cao từ đó tác giả đã đề xuất những kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động cho vay đối với hoạt động nông nghiệp công nghệ cao trong thời gian tới. Tuy nhiên nghiên cứu này dưới dạng bài nghiên cứu trên tạp chí, việc phân tích đánh giá về cho vay ở phạm vi đối với nông nghiệp công nghệ cao, và chỉ nhìn lại các chính sách mà Nhà nước đã áp dụng đối với cho vay sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.
Tô Thiện Hiền và Lê Thiên Kim (2020) với nghiên cứu “Mở rộng hoạt động cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp tại Vietcombank - chỉ nhánh Đồng Tháp tác giả đã đề cập đến vấn đề về hoạt động tín dụng trong hệ thống NHTM CP Việt Nam cùng với việc khái quát hiệu quả hoạt động kinh doanh, thực trạng hoạt động cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp tại Vietcombank Đồng Tháp trong giai đoạn 2014- 2017, từ đó, bài viết đề xuất một số giái pháp nhằm nâng cao hiệu quả mở rộng hoạt động cho vay trong lĩnh vực Nông nghiệp tại Vietcombank từ nay đến năm 2023, góp phần phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đồng Tháp. Tuy nhiên, nghiên cứu này dưới dạng bài nghiên cứu đãng tạp chí, nghiên cứu chưa đầy đủ bao quát về mở rộng cho 6 vay, nghiên cứu ở phạm vi cho vay lĩnh vực nông nghiệp tại Vietcombank - chi nhánh Đồng Tháp. Khoảng trống nghiên cứu Tổng quan nghiên cứu cho thấy các nghiển cứu trển đã cung cấp nhừng hiểu biết cơ bản về DNNVV, về hoạt động cho vay của NHTM đối với DNNVV giúp hình thành một khung lý thuyết về vấn đề mà luận văn đang quan tầm. Tuy nhiên nghiên cứu về phát triển cho vay được thực hiện ở phạm vi và thời gian khác nhau như Vietcombank Trà Vinh (2010-2014); Vietinbank Hai Bà Trưng (2014-2017); BIDV Thanh xuân (2013-2015); Vietcombank Quảng Ninh (2013-2015); MB (2017-2019); GPBank (2011-2014); HDBank (2013-2016) và đặc thù của các ngân hàng là khác nhau, mỗi nghiên cứu có mục đích nghiển cứu khác nhau.
Do đó, kết quả của các nghiên cứu đó không áp cho ngân hàng TMCP Dầu khí toàn cầu- chi nhánh Ba Đình, Hà nội hiện nay. Mặc dù đến nay, đã có cổng trinh nghiển cứu về: “Phát triền hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngần hàng TMCP Dầu khí toàn cầu - chi nhánh Ba Đình, Hà Nội” nhưng ở trong giai đoạn 2011 -2014 và mặt khác nừa GPBank chính thức chuyển đổi mô hình thành NHTM TNHH một thành viên dầu khí toán cầu từ ngày 7/7/2015. Vì vậy, đề tài “Phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu khí toàn cầu - Chi nhánh Thăng Long” sẽ là điểm mới trong nghiên cứu. Đe tài này về mặt lý luận và thực tiễn sè giúp cho GPBank Thãng Long có cái nhìn tồng quan hơn về hoạt động phát triển cho vay DNNVV, khắc phục những hạn chế và có những giải pháp phù hợp trong thời gian tới.
Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại 1. Tống quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong nền kinh tế thị thường có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại, phát triển và cạnh tranh với nhau. Tuy nhiển để thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, người ta thường dựa theo các tiều thức khác nhau đề phân loại các loại hình doanh nghiệp.
7 Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhở vả vừa cỏ thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của ngân hàng thế giới, doanh nghiệp siêu nhở là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước minh.
Ở Việt Nam, theo Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CPngày 11/03/2018 của Chính phú, quy định: - Doanh nghiệp siêu nhỏ: + Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu cùa năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. + Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.