Tổng quan nghiên cứu
Năm 2010, ngành cao su Việt Nam ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc khi xuất khẩu đạt 782.200 tấn mủ với kim ngạch kỷ lục 2,388 tỷ USD, đưa nước ta vươn lên vị trí thứ tư thế giới về xuất khẩu và đóng góp khoảng 3,3% tổng giá trị xuất khẩu toàn quốc. Tuy nhiên, tại địa bàn chiến lược Tây Nguyên với tổng diện tích tự nhiên 54.474 km2 và chiếm 26% quỹ đất bazan màu mỡ của cả nước, tiềm năng kinh tế nông nghiệp vẫn chưa được khai phóng tương xứng; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn trước năm 2006 vẫn ở mức cao trên 60%.
Vấn đề then chốt đặt ra cho khu vực Tây Nguyên là làm thế nào để phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện thổ nhưỡng, biến cây cao su trở thành đòn bẩy thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) nông nghiệp và nông thôn. Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu luận giải cơ sở khoa học, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển sản xuất cao su thiên nhiên tại 5 tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Kon Tum, Lâm Đồng) giai đoạn 2005-2010, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và định hướng chiến lược cho giai đoạn 2011-2020.
Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc lượng hóa các chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể, nhằm nâng năng suất mủ cao su Tây Nguyên từ 1,32 tấn/ha tiệm cận mức bình quân cả nước là 1,69 tấn/ha, đồng thời tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động bền vững cho hơn 433.000 thanh niên dân tộc thiểu số trong toàn vùng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn được xác định theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX. Quá trình này được định nghĩa là sự chuyển dịch căn bản cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, gắn kết chặt chẽ vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến và mở rộng thị trường tiêu thụ nhằm gia tăng giá trị thặng dư.
Đồng thời, luận văn vận dụng lý thuyết phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày kết hợp mô hình kinh tế chuỗi giá trị nông sản toàn cầu của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO 1963). Để tăng cường tính thực tiễn, tác giả tổng hợp khung mô hình quản lý và hỗ trợ cao su tiểu điền từ các quốc gia hàng đầu thế giới:
- Mô hình cơ quan phát triển đất và tái canh tập trung FELDA, RISDA của Malaysia (giúp tái canh hơn 1,4 triệu ha cao su).
- Mô hình đại điền hạt nhân NES của Indonesia.
- Quỹ hỗ trợ tái canh ORRAF của Thái Lan.
- Hội các nhà sản xuất cao su RPS tại Ấn Độ (giúp nước này dẫn đầu thế giới về năng suất với 1.760 kg/ha).
Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm cốt lõi: Công nghiệp hóa nông nghiệp; Hiện đại hóa nông thôn; Cao su đại điền quốc doanh; và Cao su tiểu điền (CSTĐ) liên kết.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2005-2010. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) và Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG). Nguồn dữ liệu sơ cấp được thực hiện thông qua phỏng vấn bán cấu trúc với cỡ mẫu gồm hơn 100 cán bộ quản lý, chuyên viên tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội của 5 tỉnh Tây Nguyên, cùng lãnh đạo 24 doanh nghiệp thành viên VRG.
Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phi xác suất có chủ đích, tập trung vào các cơ quan ban ngành hoạch định chính sách và các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh cao su quy mô lớn trên địa bàn. Nghiên cứu áp dụng các phương pháp phân tích chính:
- Phương pháp thống kê mô tả: Phân tích thực trạng diện tích, sản lượng, năng suất và cơ cấu lao động.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp và lịch sử so sánh: Đánh giá quá trình phát triển của ngành cao su qua các mốc thời gian từ năm 1976 đến năm 2010.
- Phương pháp chuyên gia và quy nạp hệ thống: Đúc kết bài học quốc tế và đề xuất giải pháp đồng bộ.
Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm bảo đảm tính bao quát về mặt kinh tế lượng, đồng thời nắm bắt sâu sắc các yếu tố đặc thù về văn hóa - xã hội và tập quán canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, diện tích cao su Tây Nguyên tăng trưởng nhanh nhưng năng suất còn khoảng cách lớn so với các vùng chuyên canh khác. Đến năm 2009, tổng diện tích cao su Tây Nguyên đạt 159.378 ha, chiếm 23,6% diện tích cả nước, đứng thứ hai sau vùng Đông Nam Bộ (439.837 ha, chiếm 64,9%). Tuy nhiên, sản lượng khai thác của Tây Nguyên chỉ chiếm 17,2% toàn quốc, năng suất bình quân đạt 1,32 tấn/ha (tương đương 81,1% mức bình quân chung cả nước là 1,69 tấn/ha và thấp hơn mức 1,80 tấn/ha của Đông Nam Bộ).
Thứ hai, cơ cấu tổ chức sản xuất có sự chuyển dịch mạnh mẽ với sự bùng nổ của cao su tiểu điền. Năm 2009, diện tích cao su tiểu điền cả nước đạt 343.800 ha (chiếm 50,7%), lần đầu tiên vượt qua diện tích cao su đại điền (333.900 ha, chiếm 49,3%). Tại Tây Nguyên, mô hình tiểu điền phát triển với quy mô bình quân 2,4 ha/hộ, thu hút hàng chục nghìn hộ nông dân tham gia sản xuất hàng hóa.
Thứ ba, ngành cao su tạo bước đột phá trong giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động địa phương. Riêng hệ thống doanh nghiệp thành viên của VRG đã giải quyết việc làm cho 89.469 người, trong đó có 8.906 lao động là người dân tộc thiểu số. Thu nhập bình quân của người lao động tăng từ 4,0 triệu đồng/tháng năm 2009 lên 7,0 triệu đồng/tháng năm 2010, tương ứng mức tăng 75%.
Thứ tư, phát triển cao su gắn liền với hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông thôn và giảm nghèo bền vững. Giai đoạn 2005-2009, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên giảm từ 63,7% xuống dưới 46%. Các đơn vị cao su đã đầu tư hàng nghìn km đường giao thông liên thôn, xây dựng 9 công trình thủy lợi với 3.600m kênh mương nội đồng và hỗ trợ 100% trẻ em trong độ tuổi đến trường.
Thảo luận kết quả
Sự chênh lệch năng suất giữa Tây Nguyên (1,32 tấn/ha) và Đông Nam Bộ (1,80 tấn/ha) bắt nguồn từ các yếu tố tự nhiên và kỹ thuật canh tác. Tây Nguyên có địa hình cao từ 400m đến trên 800m so với mực nước biển, mùa khô kéo dài 5-6 tháng cùng biên độ nhiệt ngày đêm lớn, đòi hỏi các giống cao su chuyên biệt có khả năng chống chịu gió lạnh và hạn hán. Bên cạnh đó, trình độ kỹ thuật cạo mủ của người dân tiểu điền vùng sâu còn hạn chế, dẫn đến việc khai thác chưa đúng quy trình kỹ thuật.
So sánh với kinh nghiệm quốc tế, các hộ tiểu điền tại Tây Nguyên còn thiếu vắng các tổ chức kinh tế hợp tác tương tự như hệ thống 700 hợp tác xã của Thái Lan hay 2.500 hội RPS của Ấn Độ. Điều này khiến nông dân dễ bị tư thương ép giá khi thị trường biến động. Khi biểu diễn dữ liệu qua biểu đồ tăng trưởng giá xuất khẩu (giai đoạn từ 1.200 USD/tấn năm 2005 lên đỉnh điểm 4.500 USD/tấn vào tháng 9/2011), có thể nhận thấy rõ tính chu kỳ gay gắt của giá mủ tự nhiên trên sàn giao dịch quốc tế.
Do đó, việc phát triển cao su không chỉ dừng lại ở mở rộng diện tích thuần túy mà phải xem cây cao su như một hệ sinh thái rừng trồng đa mục đích (chu kỳ sống 30-35 năm), vừa phủ xanh đất trống đồi trọc, vừa cung cấp gỗ thanh lý với giá trị xuất khẩu từ 1.200 đến 2.000 USD/m3 gỗ thành phẩm.
Đề xuất và khuyến nghị
- Quy hoạch mở rộng và thâm canh vùng chuyên canh cao su chất lượng cao: Tiến hành rà soát, chuyển đổi quỹ đất lâm nghiệp nghèo kiệt và đất đồi dốc sang trồng cao su; phấn đấu nâng tổng diện tích cao su toàn vùng Tây Nguyên lên mức 200.000 - 250.000 ha vào năm 2015, góp phần đạt mục tiêu 800.000 ha của cả nước. Đơn vị thực hiện: Ủy ban nhân dân 5 tỉnh Tây Nguyên chủ trì phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và cải tạo bộ giống: Ứng dụng công nghệ kích thích mủ bằng khí gas (RRIMFLOW, LETFLOW) và kỹ thuật cạo mủ cường độ thấp (LITS); đặt mục tiêu nâng năng suất bình quân toàn vùng từ 1,32 tấn/ha lên 1,80 tấn/ha trong giai đoạn 2012-2020. Đơn vị thực hiện: Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam và Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam.
- Xây dựng mô hình đại điền hạt nhân và liên kết hợp tác xã cao su tiểu điền: Thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã sơ chế theo cụm 50-200 hộ; bảo đảm thu mua trực tiếp tối thiểu 85% sản lượng mủ tiểu điền với giá thị trường minh bạch, giúp tăng thu nhập của nông hộ thêm 20-30% giai đoạn 2013-2018. Đơn vị thực hiện: Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) phối hợp cùng Liên minh Hợp tác xã các tỉnh.
- Phát triển công nghiệp chế biến sâu và hoàn thiện kết cấu hạ tầng an sinh: Đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất sản phẩm công nghiệp cao su (găng tay, chỉ thun, linh kiện cơ khí, đệm cao su) và chế biến gỗ tinh chế đạt giá trị xuất khẩu trên 500 triệu USD; đào tạo nghề cạo mủ cho 15.000 - 20.000 lao động đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ đến năm 2020. Đơn vị thực hiện: Doanh nghiệp chế biến cao su và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan quản lý nhà nước và ban ngành hoạch định chính sách: Các Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Kế hoạch & Đầu tư tại khu vực Tây Nguyên sử dụng làm căn cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch nông nghiệp nông thôn, đề án phát triển cây công nghiệp dài ngày và kế hoạch giảm nghèo cho 46 dân tộc anh em.
- Lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp và nông trường cao su: Tập đoàn VRG và các công ty thành viên tham khảo để tối ưu hóa quy trình quản trị nông trường, chuyển giao kỹ thuật khai thác mủ năng suất cao (trên 1,7 tấn/ha) và thiết lập mô hình bao tiêu sản phẩm cho nông dân.
- Giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu kinh tế: Các cơ sở đào tạo đại học và viện nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển khai thác khung lý thuyết CNH-HĐH nông thôn và hệ thống số liệu khảo sát thực địa giai đoạn 2005-2010.
- Các tổ chức khuyến nông, liên minh hợp tác xã nông nghiệp: Vận dụng các mô hình kinh nghiệm quốc tế (FELDA Malaysia, RPS Ấn Độ) để tổ chức lại mạng lưới nông dân tiểu điền, thành lập các trạm dịch vụ kỹ thuật và trung tâm thương mại mủ cao su tập trung.
Câu hỏi thường gặp
Cây cao su đóng vai trò như thế nào đối với xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Việt Nam?
Năm 2010, xuất khẩu cao su đạt 782.200 tấn với trị giá 2,388 tỷ USD, trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn thứ hai sau gạo và đóng góp 3,3% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Cây cao su đóng vai trò hạt nhân thúc đẩy CNH-HĐH nông thôn thông qua hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn.
Vì sao năng suất cao su tại Tây Nguyên lại thấp hơn vùng Đông Nam Bộ?
Giai đoạn 2005-2010, năng suất cao su Tây Nguyên đạt 1,32 tấn/ha, thấp hơn mức 1,80 tấn/ha của Đông Nam Bộ do địa hình đồi núi cao, mùa khô kéo dài 5-6 tháng và sự thiếu đồng bộ trong việc ứng dụng giống chịu lạnh, chịu hạn. Thêm vào đó, kỹ thuật cạo mủ của người dân tiểu điền tại một số vùng sâu chưa đạt chuẩn.
Mô hình cao su mang lại lợi ích xã hội trực tiếp nào cho đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên?
Ngành cao su thu hút hàng nghìn lao động bản địa vào làm công nhân nông trường, giúp nâng thu nhập bình quân lên 7,0 triệu đồng/tháng vào năm 2010. Việc làm ổn định đã làm thay đổi tập quán du canh du cư, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số toàn vùng từ 63,7% năm 2005 xuống dưới 46% năm 2009.
Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm quốc tế nào để phát triển cao su tiểu điền?
Nghiên cứu chỉ ra 4 bài học lớn từ Malaysia, Thái Lan và Ấn Độ: thành lập tổ chức hỗ trợ kỹ thuật và tài chính chuyên trách (như RISDA, ORRAF); thành lập các hội người trồng cao su (mô hình RPS với 50-200 hộ); đẩy mạnh ngành công nghiệp chế biến sâu trong nước; và triển khai các chương trình trợ cấp tái canh bằng giống cao sản.
Cây cao su đóng góp gì cho bảo vệ môi trường sinh thái tại khu vực Tây Nguyên?
Với vòng đời khai thác kéo dài 30-35 năm và tán lá rậm rạp, vườn cao su đóng vai trò như một thảm rừng phòng hộ bền vững. Cây cao su giúp che phủ hơn 159.000 ha đất trống đồi trọc, hạn chế tối đa xói mòn rửa trôi đất đỏ bazan và duy trì độ phì nhiêu của tầng đất canh tác lâu dài.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và khẳng định vai trò trụ cột của cây cao su trong phát triển kinh tế vùng.
- Đánh giá toàn diện thực trạng phát triển cao su tại 5 tỉnh Tây Nguyên trên tổng quỹ đất 54.474 km2, phân tích rõ nguyên nhân năng suất đạt 1,32 tấn/ha giai đoạn 2005-2010.
- Đúc kết 4 bài học kinh nghiệm quốc tế thực tiễn từ Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Ấn Độ áp dụng phù hợp cho bối cảnh Việt Nam.
- Lượng hóa các đóng góp kinh tế - xã hội then chốt: tạo việc làm cho hơn 89.000 lao động nông trường, nâng thu nhập lên 7 triệu đồng/tháng và giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo DTTS.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược về quy hoạch vùng, ứng dụng kỹ thuật giống, liên kết chuỗi tiểu điền và phát triển hạ tầng chế biến sâu đến năm 2020.
Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là cung cấp khung luận cứ thực chứng và định hướng chiến lược giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tây Nguyên từ chiều rộng sang chiều sâu. Kế hoạch triển khai chia làm hai giai đoạn: giai đoạn 2011-2015 tập trung quy hoạch mở rộng vùng trồng và liên kết chuỗi; giai đoạn 2016-2020 đẩy mạnh công nghiệp chế biến sâu và hoàn thiện hạ tầng an sinh.
Các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp cần bắt tay triển khai đồng bộ các giải pháp trên nhằm biến tiềm năng đất đỏ Tây Nguyên thành động lực phát triển bền vững cho nền kinh tế quốc gia.