Chương 1: Giới thiệu tổng quan luận văn Chương 2: Cở sở lý thuyết về xây dựng và phát triển cá tính thương hiệu điểm đến du lịch Chương 3: Mô hình nghiên cứu xây dựng và phát triển cá tính thương hiệu điểm đến du lịch 9 Chương 4: Phân tích việc xây dựng và phát triển cá tính thương hiệu cho điểm đến du lịch nhằm thu hút khách quốc tế: Trường hợp thành phố Hạ Long – tỉnh Quảng Ninh Chương 5: Một số đề xuất và kiến nghị cho công tác quản trị 10 CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁ TÍNH THƯƠNG HIỆU ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 2. Lý thuyết về cá tính thương hiệu và cá tính thương hiệu điểm đến du lịch 2. Điểm đến du lịch Điểm đến du lịch là một trong những thuật ngữ được sự dụng nhiều trong lĩnh vực du lịch. Cho đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm du lịch.
Thời gian đầu, Burkart và Medik (1974) xác định điểm đến du lịch là nơi được khách du lịch ghé thăm, có thể là một khu vực khép kín, một ngôi làng, một thị trấn, một thành phố, một huyện hoặc một lục địa. Địa điểm du lịch được xác định rõ theo ranh giới địa lý. Địa điểm du lịch được tạo thành bởi ba yếu tố chính: địa điểm tham quan, khả năng tiếp cận và sự tiện nghi. Khái niệm này được xem xét trong nghiên cứu sau này vì tập trung gần như tất cả các quan điểm của một điểm đến du lịch đã được thảo luận sau đó bởi nhiều nhà nghiêu cứu.
Leiper (1995) cho rằng, điểm đến du lịch là địa điểm mà mọi người khi đi du lịch chọn là nơi họ ở lại trong một thời gian để trải nghiệm một số tính năng hoặc đặc điểm của điểm đến đó. Unwto (2007) định nghĩa điểm đến du lịch là một không gian vật lý, trong đó khách du lịch dành ít nhất một đêm ở lại. Điểm đến bao gồm các sản phẩm về du lịch như: các điểm tham quan, tài nguyên du lịch và dịch vụ hỗ trợ du lịch. Cụ thể hơn, điểm đến du lịch được hiểu là sự kết hợp của các sản phẩm du lịch và các thành phần vô hình khác được quảng bá cho khách du lịch (Cooper và cộng sự, 1998), điểm đến là trọng tâm được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
Các điểm đến có thể ở bất kỳ quy mô nào, từ lục địa (như ÚC), quốc gia (Nga, Mỹ), khu vực (Châu Âu) hoặc đảo (Bali), đến thành phố, thị trấn, trung tâm,… Liên quan đến các yếu tố của một điểm đến du lịch, Mill và Morrison (1992) cho rằng: tại một điểm đến có sự pha trộn của các yếu tố với nhau. Để tạo ra sự hài lòng về trải nghiệm của một kỳ nghỉ, phải có tất cả các yếu tố phải phụ thuộc lẫn nhau. Điểm đến bao gồm: Các điểm tham quan, cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, sự 11 hiếu khách. Để thu hút khách du lịch, điểm đến cần đáp ứng nhu cầu đi lại cơ bản của khách hàng như chi phí, tính chấp hợp thời và sự thuận tiện.
Đối với người mua loại hình dịch vụ cụ thể này, họ cân nhắc chi phí so với giá trị của điểm đến (Kotler và cộng sự, 2003). Chi phí du lịch bao gồm tiền bạc, thời gian và công sức để trao đổi với trải nghiệm, sự hiểu biết, giải trí, thư giãn và kỷ niện đẹp mà người tiêu dùng có được từ điểm đến. Sự tiện lợi trong du lịch có nhiều ý nghĩa khác nhau như dành thời gian để có được thông tin cần thiết, rào cản ngôn ngữ, mối quan tâm về môi trường, khả năng tiếp cận và những nhu cầu cụ thể. Các yếu tố quan trọng khác cũng ảnh hưởng đến điểm đến như các vấn đề chỉnh trị - xã hội, rủi ro và tội phạm.
Thương hiệu Hiện nay, thuật ngữ thương hiệu đang được nghiên cứu rộng rãi trong lĩnh vực marketing. Có nhiều định nghĩa và cách tiếp cận khác nhau xoay quanh thuật ngữ thương hiệu. Việc xây dựng thương hiệu diễn ra như một cách để phân biệt sản phẩm của một nhà sản xuất với đối thủ cạnh tranh. Thương hiệu sẽ có một tên cụ thể, khác biệt và có nhãn hiệu tương ứng (Hansen và Christensen 2003).
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA) (2006), thương hiệu bao gồm tên, thuật ngữ, biểu tượng, ký hiệu hoặc thiết kế nhằm nhận diện, xác định được hàng hóa, dịch vụ của người bán, và để phân biệt với các đối thủ cạnh tranh. Thương hiệu mạnh có thể giúp sản phẩm hoặc dịch vụ đạt được lợi thế cạnh tranh (LimvàO’Cass, 2001), giúp khách hàng có thể dễ dàng quyết định sản phẩm giữa rất nhiều lựa chọn thay thế (Assael , 1995). Ngoài ra, thương hiệu còn có thể giúp giảm rủi ro cho sản phẩm (Berthon, Hulbert, và Pitt, 1999), làm tăng giá trị cảm nhận cho khách hàng (Erdem, 1998). Thương hiệu là sự kết nối giữa người tiêu dùng và sản phẩm, được cho là tài sản vô hình có giá trị lớn nhất đối với một công ty (Sutikno, 2011).
Một thương hiệu không phải là một sản phẩm. Đó là bản chất sản phẩm, ý nghĩa và định hướng của sản phẩm, định vị vị trí của mình qua thời gian và không gian. Thường các thương hiệu được kiểm tra và định giá thông quan các bộ phận cấu thành như: tên thương hiệu, logo, thiết kế, bao bì, quảng cáo, hoặc nhận dạng 12 hình ảnh (Doyle 1998, Kapferer, 1992). Cá tính thương hiệu 2.
Cá tính thương hiệu Khi xây dựng những phẩm chất cần có của một thương hiệu, việc gắn thương hiệu với những tính cách đặc trưng của một con người (cụ thể là gắn với những đặc tính của nhóm khách hàng mục tiêu) sẽ khiến thông điệp muốn truyển tải tới gần khách hàng hơn. Việc gắn kết với một thứ thân thuộc, có tích cách và bản sắc riêng sẽ dễ dàng liên kết và trở nên gắn bó. Thương hiệu khi có cá tính riêng sẽ giúp người bán có thể kết nối và tạo dựng mối quan hệ bền chặt với khách hàng mục tiêu cũng như khách hàng trung thành của mình. Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA) (1995): Cá tính thương hiệu là bản chất tâm lý của một thương hiệu cụ thể theo dự định của người bán, Aaker (1997) đã phát triển khung lý thuyết về xây dựng cá tính thương hiệu và đo kích thước của thương hiệu bằng cách đưa ra một thang đo đáng tin cậy và khái quát.
Trong nghiên cứu của bà, 37 nhãn hiệu được đánh giá bởi 631 đối tượng với trên 114 đặc điểm tính cách, đây là kết quả của nghiên cứu mà bà đã phát triển thành thang đo cá tính thương hiệu, gồm 42 đặc điểm và chia thành 5 nhóm thể hiện các đặc điểm cá tính thương hiệu, đó là: chân thành, sôi nổi, có năng lực, tinh tế và bền bỉ. Tuy nhiên, Aaker (1997) cũng cho rằng thang đo này có thể không hoàn hảo và phù hợp với tất cả người tiêu dùng từ các nền văn hóa khác nhau. Sau Aaker (1997), nhiều nhà nghiên cứu cũng đã phát triển khái niệm và thang đo cá tính thương hiệu cho các chủ để khác nhau trong một số nghiên cứu của họ dưới đây. Siguaw và Mattila (1999) đã dử dụng thang đo cá tính thương hiệu của Aaker để đo lường mức độ cá tính thương hiệu của nhà hàng.
Mẫu của họ bao gồm sinh viên và các đối tượng được yêu cầu đánh giá 9 thương hiệu nhà hàng trên 42 đặc điểm tính cách. 9 thương hiệu bao gồm 3 thương hiệu dịch vụ ăn nhanh (Wendy, MCDonald và Burger King), 3 thương hiệu ăn uống hạng trung (T. Friday’s, Applebee, và Chili) và 3 thương hiệu cao cấp (Dano’s on Cayuga, John Thomas Steak House và Keene’s American Bistro). Nghiên cứu cho rằng các thương hiệu 13 dịch vụ cung cấp đồ ăn nhanh thành công hơn trong việc phát triển và truyền đạt một cá tính thương hiệu hiệu quả hơn so với các thương hiệu nhà hàng hạng trung và cao cấp.
Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, một cá tính thương hiệu được thiết lập tốt dẫn đến làm tăng mối quan tâm, lòng tin và lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu. Nhìn thấy lỗ hổng trong tài liệu marketing liên quan đến ảnh hưởng của cá tính thương hiệu, Freling và Forber (2005) đã nghiên cứu thực nghiệm các tác động của cá tính thương hiệu đối với hành vi của khách hàng. Họ thấy rằng cá tính thương hiệu ảnh hưởng tích cực đến việc đánh giá sản phẩm. Nếu người tiêu dùng tiếp xúc với các đặc điểm cá tính thương hiệu của các sản phẩm hoặc dịch vụ mạnh mẽ và tích cực, thì có nhiều khả năng họ đánh giá tốt hơn cho về thuong hiệu đó.
Xây dựng cá tính thương hiệu tích cực cho phép các thương hiệu lớn mạnh hơn, thuận lợi hơn, độc đáo hơn và làm tăng giá trị thương hiệu. Mengxia (2007) đã nghiên cứu tác động của tích cách thương hiệu đến sở thích, thái độ, lòng trung thành và ý định mua hàng của người tiêu dùng. Các đối tượng nghiên cứu ở Trung Quốc đã được yêu cầu đánh giá mặt hàng của Sony (linh kiện và thiết bị điện tử) và thương hiệu Nike (trang phục thể thao) trên 42 thang đo cá tính thương hiệu được phát triển bởi Aaker (1997). Qua nghiên cứu, cả 2 thương hiệu đều được đánh giá tốt, tuy nhiên thương hiệu Sony được đánh giá tích cực hơn Nike.
Mengxia (2007) kết luận rằng cá tính thương hiệu tích cực có tác động tích cực đến sở thích, thái độ, lòng trung thành và ý định mua hàng của người tiêu dùng. Một đóng góp khác từ nghiên cứu của ông đối với cá tính thương hiệu là ông đã xác nhận tính phù hợp của thang đo cá tính thương hiệu của Aaker (1997) trong văn hóa Trung Quốc. Khi cá tính thương hiệu được kích hoạt mạnh mẽ trong tâm trí người tiêu dùng, nó cũng ảnh hưởng đến hành vi và thái độ của người tiêu dùng với thương hiệu (Wysung, 2000). Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cá tính thương hiệu được xây dựng thành công có thể làm tăng sự ưa thích của khách hàng và khuyến khích tiêu dùng thương hiệu (Sirgy, 1982), tăng sự gắn bó cảm xúc của người tiêu dùng với thương hiệu (Biel, 1993), tăng lòng tin và lòng trung thành với thương hiệu (Fournier, 1998).
Keller cũng nêu các khái niệm này trong mô hình thương hiệu của 14 mình, ông cho rằng cá tính thương hiệu ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa người tiêu dùng và thương hiệu, bao gồm sở thích thương hiệu (Kim, 2000), gắn kết thương hiệu (Sung, 2005), lòng tin thương hiệu (Hess, 2007) và lòng trung thành với thương hiệu (Bercus, 2009).