Tổng quan nghiên cứu
Phú Thọ là một trong những trung tâm sản xuất chè lớn của vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, giữ vị trí thứ 4 cả nước về diện tích canh tác với 16,2 nghìn ha và đứng thứ 3 về sản lượng khi đạt xấp xỉ 173 nghìn tấn chè búp tươi vào năm 2018. Trong bức tranh chung đó, huyện Thanh Sơn giữ vị trí chiến lược khi sở hữu 5 làng nghề chè truyền thống được công nhận sớm nhất tỉnh, tạo việc làm cho 786 lao động nông thôn với sản lượng hàng năm đạt 466 tấn. Tuy nhiên, sự phát triển của các làng nghề chè tại địa phương vẫn đang đối mặt với rào cản lớn: phương thức sản xuất chủ yếu mang tính thủ công, quy mô đất đai manh mún với mức bình quân chỉ 0,55 ha/hộ và nguồn vốn tự có còn rất hạn chế khi chỉ đạt 72,625 triệu đồng/hộ.
Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để chuyển đổi các làng nghề chè truyền thống tại huyện Thanh Sơn từ mô hình sản xuất nhỏ lẻ, giá trị gia tăng thấp sang mô hình phát triển bền vững trên cả 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế làng nghề; đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động giai đoạn 2016-2018; nhận diện các điểm nghẽn về vốn, công nghệ và chuỗi liên kết; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030.
Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn 5 làng nghề chè thuộc huyện Thanh Sơn, khảo sát thực chứng chuyên sâu tại 4 làng nghề đại diện gồm: làng nghề chè Khuôn (xã Sơn Hùng), làng nghề chè Đồng Lão (xã Thục Luyện), làng nghề chè Mai Thịnh (xã Địch Quả) và làng nghề chè Thanh Hà (xã Võ Miếu). Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp nâng mức doanh thu bình quân của hộ làm nghề vượt mốc 119,031 triệu đồng/năm, duy trì thu nhập ổn định trên 4,3 triệu đồng/người/tháng và thiết lập chuỗi giá trị khép kín gắn với tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển bền vững nông thôn kết hợp với mô hình kinh tế làng xã và lý thuyết cân bằng không gian của MacAulay. Mô hình tiếp cận nghiên cứu dựa trên sự tương tác giữa các nguồn lực sản xuất đầu vào (đất đai, lao động, vốn, công nghệ), các hình thức tổ chức sản xuất (kinh tế hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp) và hiệu quả đầu ra (giá trị kinh tế, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái).
Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:
- Làng nghề nông thôn: Cụm dân cư cấp thôn, bản có ngành nghề phi nông nghiệp hoặc chế biến nông sản phát triển, đạt tỷ lệ tối thiểu 30% tổng số hộ tham gia sản xuất kinh doanh ổn định từ 2 năm trở lên theo quy định tại Nghị định 66/2006/NĐ-CP và Thông tư 116/TT-BNN&PTNT.
- Làng nghề chè truyền thống: Không gian kinh tế - văn hóa đặc thù nơi hoạt động trồng, thu hái và chế biến chè gắn liền với lịch sử địa phương trên 50 năm, có sự truyền nghề qua nhiều thế hệ và tạo ra sản phẩm mang đậm bản sắc vùng miền.
- Chuỗi giá trị ngành chè: Toàn bộ chuỗi các hoạt động từ cung ứng giống, phân bón, chăm sóc, thu hái chè búp tươi, chế biến sâu (chè xanh, chè đen) đến phân phối và tiêu thụ trên thị trường nội địa hoặc xuất khẩu.
- Tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp tốt: Quy trình VietGAP và GlobalGAP ứng dụng trong canh tác chè nhằm kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và khí thải nhà kính.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo định kỳ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ, Chi cục Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê và UBND huyện Thanh Sơn trong giai đoạn 2016-2018.
Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa năm 2019. Tổng thể nghiên cứu gồm N = 432 hộ sản xuất chè tại 5 làng nghề trên địa bàn huyện. Cỡ mẫu được xác định theo công thức chọn mẫu Slovin với biên độ sai số e = 0,1 (10%):
n = N / (1 + N * e^2) = 432 / (1 + 432 * 0,01) = 81,2 hộ.
Tác giả lựa chọn quy mô mẫu thực tế là 80 hộ, phân bổ đồng đều 20 hộ/làng tại 4 làng nghề đại diện: làng nghề chè Khuôn (xã Sơn Hùng, công nhận năm 2006), làng nghề chè Đồng Lão (xã Thục Luyện, công nhận năm 2011), làng nghề chè Mai Thịnh (xã Địch Quả, công nhận năm 2015) và làng nghề chè Thanh Hà (xã Võ Miếu, công nhận năm 2017). Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng dưới sự hỗ trợ của cán bộ khuyến nông cơ sở.
Phương pháp xử lý dữ liệu sử dụng công cụ Excel PivotTable để phân tổ thống kê theo nhóm sản phẩm (chè tươi, chè khô) và theo mô hình tổ chức (hộ độc lập, thành viên hợp tác xã). Phương pháp thống kê mô tả (tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số biến động) và phương pháp so sánh đa chiều được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác sự khác biệt về hiệu quả kinh tế giữa các hình thức liên kết sản xuất.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, về quy mô tổ chức và nguồn nhân lực: Toàn huyện Thanh Sơn có 5 làng nghề chè với tổng số 432 hộ gia đình tham gia sản xuất. Tổng lực lượng lao động đạt 786 người, trong đó lao động thường xuyên chiếm 639 người (tỷ lệ 81,3%), bình quân mỗi làng nghề có 127,8 lao động thường xuyên. Bình quân mỗi hộ có 4,88 nhân khẩu và 2,33 lao động trực tiếp quản lý diện tích canh tác 0,55 ha. Vốn đầu tư sản xuất bình quân của hộ chỉ đạt 72,625 triệu đồng, phần lớn là vốn tự có, cho thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn.
Thứ hai, về năng lực sản xuất và doanh thu: Năm 2017, tổng sản lượng của 5 làng nghề đạt 466 tấn, mang lại tổng doanh thu 32,6 tỷ đồng, bình quân mỗi làng nghề đạt 6,5 tỷ đồng (hệ số biến động 40,8%). Đến năm 2018, doanh thu từ chè của hộ làm nghề đạt bình quân 119,031 triệu đồng/năm, tăng 9,347 triệu đồng so với năm 2017 (tương đương mức tăng trưởng khoảng 8,5%). Thu nhập bình quân của người lao động đạt 4,3 triệu đồng/người/tháng, thể hiện tính ổn định cao với hệ số biến động thu nhập chỉ ở mức 25,3%.
Thứ ba, về hiệu quả kinh tế theo hình thức tổ chức và công nghệ: Nhóm hộ tham gia hợp tác xã đạt doanh thu cao hơn rõ rệt so với nhóm hộ sản xuất cá thể nhờ khả năng đàm phán giá vật tư đầu vào và tiêu thụ tập trung. Đồng thời, nhóm hộ đầu tư chế biến chè xanh khô đạt giá trị gia tăng cao hơn từ 30% đến 45% so với nhóm hộ chỉ bán chè búp tươi cho thương lái.
Thứ tư, về cấu trúc kênh phân phối sản phẩm: Có tới 60% sản lượng chè làng nghề được tiêu thụ qua 8 doanh nghiệp chế biến để xuất khẩu sang các thị trường truyền thống khu vực Trung Đông như I-rắc, Can-ta, Co-ét và A-rập Xê-út dưới dạng chè bán thành phẩm. Khoảng 25% sản lượng được các hộ tự sao sấy thành chè xanh tiêu thụ nội địa, và 15% còn lại được 5 hợp tác xã trên địa bàn thu mua chế biến.
Thảo luận kết quả
Thực trạng cơ cấu kênh tiêu thụ có thể được mô tả rõ nét thông qua biểu đồ phân bổ thị phần: tỷ trọng xuất khẩu thô qua doanh nghiệp chiếm ưu thế áp đảo 60%, trong khi kênh tiêu thụ nội địa giá trị cao qua hợp tác xã mới chỉ chiếm 15%. Sự phụ thuộc lớn vào các đơn hàng xuất khẩu thô khiến giá chè nguyên liệu tại Thanh Sơn thường xuyên bị ép giá vào chính vụ thu hoạch. Biểu đồ cột so sánh doanh thu giữa các làng nghề cũng phản ánh sự chênh lệch lớn, dao động từ 1,9 tỷ đồng tại làng nghề Thanh Hà lên tới 8,7 tỷ đồng tại làng nghề Khuôn.
Nguyên nhân chính dẫn đến sự phân hóa này bắt nguồn từ mức độ trang bị máy móc cơ giới. Tại các làng nghề có doanh thu cao như làng Khuôn và Mai Thịnh, người dân đã chủ động ứng dụng máy sao tôn inox có ống khói, máy vò chè chạy điện và máy đóng gói hút chân không. Ngược lại, tại một số địa phương mới được công nhận, người dân vẫn sử dụng chảo sao truyền thống bằng củi hoặc than, làm giảm chất lượng hương vị và tăng nguy cơ ô nhiễm khí thải cục bộ.
So sánh với nghiên cứu của Vũ Quỳnh Nam (2017) về làng nghề chè tỉnh Thái Nguyên, các làng nghề tại huyện Thanh Sơn có lợi thế lớn về diện tích đồi rừng tự nhiên và thổ nhuỡng Feralit phù hợp, nhưng lại tụt hậu về công tác xây dựng nhãn hiệu tập thể và phát triển du lịch sinh thái trải nghiệm. Mối liên kết giữa 432 hộ sản xuất với 8 doanh nghiệp và 5 hợp tác xã trên địa bàn còn lỏng lẻo, chủ yếu dựa trên giao dịch mua đứt bán đoạn qua thương lái, thiếu các hợp đồng bao tiêu dài hạn gắn với tiêu chuẩn chất lượng.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, khơi thông nguồn vốn tín dụng sản xuất: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Thanh Sơn cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội cần xây dựng gói tín dụng ưu đãi chuyên biệt cho làng nghề. Mục tiêu nâng mức vốn đầu tư bình quân từ 72,625 triệu đồng lên tối thiểu 150 triệu đồng/hộ trong giai đoạn 2020-2023, giúp các hộ có đủ năng lực tài chính mua sắm trang thiết bị chế biến.
Thứ hai, đổi mới và củng cố mô hình kinh tế tập thể: UBND các xã Thục Luyện, Sơn Hùng, Địch Quả và Võ Miếu cần chỉ đạo củng cố năng lực quản trị của 5 hợp tác xã chè hiện có. Mục tiêu đến năm 2025, nâng tỷ lệ sản lượng chè làng nghề được bao tiêu qua hợp tác xã từ mức 15% lên tối thiểu 40%, đồng thời thiết lập chuỗi liên kết dọc bền vững giữa hợp tác xã với 8 doanh nghiệp xuất khẩu.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và chứng nhận an toàn: Trạm Khuyến nông huyện phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Phú Thọ tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh theo tiêu chuẩn VietGAP. Phấn đấu đến năm 2025, 100% diện tích chè làng nghề (khoảng 237 ha) áp dụng quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM, thay thế hoàn toàn các dòng thuốc bảo vệ thực vật hóa học bằng chế phẩm sinh học.
Thứ tư, xây dựng thương hiệu và phát triển du lịch trải nghiệm nông nghiệp: Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Thanh Sơn chủ trì đăng ký nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm chè xanh của từng làng nghề. Giai đoạn 2023-2025, xây dựng 2 điểm du lịch cộng đồng trải nghiệm đồi chè gắn với không gian văn hóa dân tộc Mường (chiếm 55,92% dân số huyện), góp phần đa dạng hóa nguồn thu nhập cho cộng đồng địa phương.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Phú Thọ, Chi cục Phát triển Nông thôn và UBND huyện Thanh Sơn có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu làm căn cứ khoa học để xây dựng đề án tái cơ cấu ngành chè, quy hoạch làng nghề nông thôn và phê duyệt các chương trình hỗ trợ vốn khuyến công giai đoạn 2021-2030.
Thứ hai, ban giám đốc các hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến chè: Các nhà quản trị hợp tác xã tại Phú Thọ có thể tham khảo mô hình liên kết chuỗi giá trị và phương thức tổ chức dịch vụ đầu vào - đầu ra nhằm gia tăng lợi ích kinh tế cho các hộ thành viên.
Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng hoàn chỉnh về kinh tế làng nghề nông nghiệp, ứng dụng hiệu quả công thức Slovin trong xác định cỡ mẫu (n = 80 từ tổng thể 432 hộ) và phương pháp phân tổ PivotTable để đánh giá biến động kinh tế nông hộ.
Thứ tư, các hộ gia đình và chủ cơ sở sản xuất tại làng nghề: Người trồng chè có thể nắm bắt được lợi ích cụ thể của việc tham gia hợp tác xã và việc chuyển đổi cơ cấu sản phẩm từ bán chè búp tươi sang chế biến chè xanh chất lượng cao để cải thiện thu nhập gia đình.
Câu hỏi thường gặp
-
Thu nhập bình quân của người lao động tại các làng nghề chè huyện Thanh Sơn hiện nay là bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát thực tế, mức thu nhập bình quân của một lao động làm nghề chè đạt 4,3 triệu đồng/người/tháng. Nhờ đặc thù thu hoạch chè búp tươi kéo dài từ 8 đến 9 lứa trong một năm, nguồn thu nhập của 639 lao động thường xuyên tại 5 làng nghề luôn duy trì sự ổn định giữa các tháng.
-
Rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của các hộ làm nghề chè tại huyện Thanh Sơn là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là tình trạng thiếu vốn sản xuất khi quy mô vốn bình quân của mỗi hộ chỉ đạt 72,625 triệu đồng. Hạn chế về vốn khiến đa số hộ khó tiếp cận máy móc hiện đại như tôn sao chè inox hay máy đóng gói chân không, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
-
Tại sao việc tham gia hợp tác xã lại giúp nâng cao doanh thu cho hộ trồng chè?
Hộ tham gia hợp tác xã đạt doanh thu cao hơn nhờ hành động tập thể giúp tiết giảm chi phí mua vật tư đầu vào như giống, phân bón. Đồng thời, 5 hợp tác xã trên địa bàn đóng vai trò đầu mối kiểm soát chất lượng và ký kết hợp đồng tiêu thụ chè chế biến với mức giá ổn định hơn so với thương lái tự do.
-
Cơ cấu thị trường tiêu thụ sản phẩm chè của huyện Thanh Sơn đang diễn ra như thế nào?
Thị trường tiêu thụ hiện phân hóa thành 3 kênh chính: 60% sản lượng chè búp tươi được 8 doanh nghiệp thu mua để chế biến xuất khẩu sang khu vực Trung Đông (I-rắc, Can-ta, A-rập Xê-út); 25% sản lượng được các hộ tự chế biến thành chè xanh tiêu thụ nội địa; 15% còn lại do các hợp tác xã thu mua.
-
Luận văn đã sử dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát nào để đảm bảo tính đại diện?
Nghiên cứu áp dụng công thức Slovin với mức sai số cho phép 10% trên tổng thể 432 hộ làm nghề, xác định cỡ mẫu chuẩn là 80 hộ. Tác giả thực hiện điều tra đồng đều tại 4 làng nghề tiêu biểu (mỗi làng 20 hộ) gồm làng Khuôn, làng Đồng Lão, làng Mai Thịnh và làng Thanh Hà.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa và phát triển lý luận về phát triển bền vững làng nghề chè nông thôn trên 3 phương diện then chốt: kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.
- Đề tài cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng tin cậy từ 80 hộ khảo sát tại 4 làng nghề điểm, phản ánh trung thực quy mô sản xuất với doanh thu bình quân đạt 119,031 triệu đồng/hộ/năm 2018.
- Nghiên cứu chứng minh rõ nét vai trò của chế biến sâu và liên kết hợp tác xã trong việc gia tăng giá trị sản phẩm chè và nâng cao thu nhập người lao động đạt 4,3 triệu đồng/người/tháng.
- Đã nhận diện chính xác các điểm nghẽn về quy mô vốn (72,625 triệu đồng/hộ) và sự phụ thuộc lớn vào kênh xuất khẩu thô (chiếm 60% sản lượng) của 5 làng nghề chè huyện Thanh Sơn.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao gắn với lộ trình thực hiện cụ thể trong giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030.
Để các làng nghề chè huyện Thanh Sơn phát triển bền vững và khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế, các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và các hộ làm nghề cần nhanh chóng phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp về vốn, công nghệ và liên kết chuỗi giá trị ngay từ hôm nay.