Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Kỹ Thuật Canh Tác Đến Bệnh Trên Hạt Giống Lúa Vụ Hè Thu 2003

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích bảo vệ thực vật kiểm tra sức khỏe hạt giống lúa tại an giang và ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Chuyên ngành

Bảo Vệ Thực Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án thạc sĩ

2005

148
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

CẢM TẠ

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới Thiệu Nghiên Cứu Bệnh Hại Hạt Giống Lúa Hè Thu 2003

An Giang, vựa lúa lớn của đồng bằng sông Cửu Long, chứng kiến sự chuyển đổi mạnh mẽ sang sản xuất lúa hàng hóa. Thâm canh cao, tăng vụ, lạm dụng đạm và mật độ sạ dày với mong muốn tăng năng suất. Tuy nhiên, điều này lại tạo điều kiện cho bệnh hại bùng phát trên lá và hạt giống lúa, gây thiệt hại đáng kể. Bệnh hại làm giảm chất lượng gạo, gây khó khăn cho xuất khẩu và tăng chi phí sản xuất. Giải pháp nằm ở việc bắt đầu từ khâu giống: hạt giống lúa tốt, sạch bệnh. Kỹ thuật canh tác lúa hợp lý, mật độ gieo sạ thích hợp, bón phân cân đối và kiến thức về sâu bệnh hại cũng đóng vai trò quan trọng. Đề tài "Điều tra sức khỏe hạt lúa giống tại An Giang và ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật canh tác đến bệnh trên hạt vụ hè thu 2003" được thực hiện tại Viện Nghiên Cứu Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Hạt Giống Lúa Sạch Bệnh Hè Thu

Sử dụng hạt giống lúa chất lượng cao, sạch bệnh là yếu tố then chốt để đảm bảo năng suất và phẩm chất lúa. Hạt giống nhiễm bệnh sẽ làm giảm tỷ lệ nảy mầm, tăng nguy cơ lây lan bệnh cho vụ sau. Canh tác lúa với hạt giống lúa khỏe mạnh giúp giảm chi phí phòng trừ bệnh, tăng hiệu quả kinh tế cho người nông dân. Đồng thời, góp phần nâng cao chất lượng gạo, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Theo ISTA., 1985, sức khỏe hạt giống trước hết cho biết sự hiện diện hay vắng mặt của vi sinh vật gây bệnh như nấm, vi khuẩn, virút và tuyến trùng, côn trùng, những điều kiện sinh lý cây trồng như thiếu các nguyên tố vi lượng cũng được xem xét.

1.2. Thực Trạng Canh Tác Lúa Hè Thu Tại An Giang Năm 2003

Thực tế cho thấy, kỹ thuật canh tác lúa hàng hóa tại An Giang năm 2003 chưa bắt kịp yêu cầu thị trường. Việc lạm dụng phân bón, đặc biệt là phân đạm, cùng với mật độ sạ dày đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại bệnh hại trên lúa. Điều này đòi hỏi cần có những nghiên cứu sâu sắc về ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác đến bệnh trên hạt, từ đó đưa ra các giải pháp canh tác phù hợp, bền vững.

II. Tổng Quan Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Canh Tác Đến Bệnh Hạt Lúa

Nghiên cứu về bệnh trên hạt giống lúa và ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật canh tác lúa đã được thực hiện rộng rãi. Các nghiên cứu tập trung vào xác định các tác nhân gây bệnh, đánh giá ảnh hưởng của bệnh đến năng suất và chất lượng lúa. Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp phòng trừ bệnh lúa hiệu quả. Theo tài liệu, những điều kiện sinh lý cây trồng như thiếu các nguyên tố vi lượng cũng được xem xét. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu cụ thể hơn về ảnh hưởng của các yếu tố canh tác như mật độ gieo sạ, lượng phân bón, thời vụ đến sự phát triển của bệnh trên hạt.

2.1. Các Nghiên Cứu Về Tác Nhân Gây Bệnh Hạt Giống Lúa

Nhiều loại nấm và vi khuẩn gây bệnh có thể tồn tại và lây lan qua hạt giống. Các loại nấm thường gặp bao gồm Bipolaris oryzae (gây bệnh đốm nâu), Fusarium moniliforme (gây bệnh lúa von), và Alternaria padwickii (gây bệnh phỏng lá). Vi khuẩn Xanthomonas oryzae (gây bệnh bạc lá) và Acidovorax avenae (gây bệnh sọc trong) cũng có thể lây lan qua hạt. Việc xác định chính xác các tác nhân gây bệnh là cơ sở quan trọng để lựa chọn các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Bảng 2.1 và 2.2 liệt kê danh sách các vi khuẩn và nấm gây bệnh quan trọng có khả năng truyền qua hạt.

2.2. Ảnh Hưởng Của Bệnh Hạt Giống Lúa Đến Năng Suất

Bệnh trên hạt giống có thể làm giảm tỷ lệ nảy mầm, giảm sức sống của cây mạ, và làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh cho cây lúa ở các giai đoạn sau. Điều này dẫn đến giảm số lượng bông, số lượng hạt trên bông, và trọng lượng hạt, từ đó làm giảm năng suất lúa. Các nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng hạt giống nhiễm bệnh có thể làm giảm năng suất từ 10% đến 30%, thậm chí cao hơn trong điều kiện bệnh phát triển mạnh.

2.3. Biện Pháp Quản Lý Bệnh Từ Hạt Giống Lúa Hiệu Quả

Quản lý bệnh trên hạt giống đòi hỏi sự kết hợp của nhiều biện pháp, bao gồm: Sử dụng hạt giống sạch bệnh, xử lý hạt giống bằng thuốc hóa học hoặc biện pháp sinh học, luân canh cây trồng, và áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý. Các biện pháp xử lý hạt giống bao gồm sử dụng nhiệt, hóa chất (Bảng 2.3) và các phương pháp sinh học. Việc lựa chọn biện pháp phù hợp cần dựa trên loại bệnh, mức độ nhiễm bệnh, và điều kiện cụ thể của từng vùng.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đánh Giá Bệnh Hạt Lúa Hè Thu 2003

Nghiên cứu được thực hiện tại An Giang trong vụ Hè Thu 2003. Các phương pháp bao gồm điều tra, thu thập mẫu hạt giống lúa từ các hộ nông dân, phân tích thành phần nấm và vi khuẩn gây bệnh trên hạt, và đánh giá chất lượng hạt giống. Thí nghiệm ngoài đồng được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của mật độ gieo sạ và lượng đạm bón đến bệnh lem lép hạt. Kết quả sẽ cung cấp thông tin quan trọng về tình hình bệnh trên hạt giống lúa và ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác.

3.1. Điều Tra Và Thu Thập Mẫu Hạt Giống Lúa Tại An Giang

Điều tra được thực hiện tại ba huyện đại diện của tỉnh An Giang: Thoại Sơn, Châu Phú và Chợ Mới. 90 chủ hộ nông dân được phỏng vấn trực tiếp theo phiếu điều tra và 90 mẫu hạt lúa giống được thu thập. Các thông tin thu thập bao gồm: giống lúa, nguồn gốc giống, thời gian thay giống, và các biện pháp canh tác đang áp dụng. Mỗi hộ thu 1kg hạt lúa giống chuyển về Bộ Môn Bệnh Cây của Viện Nghiên Cứu Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long để kiểm tra bệnh và đánh giá chất lượng.

3.2. Phân Tích Thành Phần Nấm Và Vi Khuẩn Trên Hạt Giống Lúa

Mẫu hạt giống được kiểm tra bằng phương pháp giấy thấm (Blotter method) để xác định thành phần nấm gây bệnh. Các loại nấm được định danh dựa trên hình thái và đặc điểm sinh học. Vi khuẩn gây bệnh được phân lập và định danh bằng các phương pháp sinh hóa và sinh học phân tử. Hình 3.1 minh họa bản đồ hành chính tỉnh An Giang. Hình 3.2 thể hiện cách sắp xếp hạt giống và ủ hạt để phát hiện nấm bệnh.

3.3. Đánh Giá Chất Lượng Hạt Giống Lúa Độ Ẩm Nảy Mầm

Các chỉ tiêu chất lượng hạt giống được đánh giá bao gồm: độ sạch, độ ẩm, tỷ lệ nảy mầm, tỷ lệ hạt thối, tỷ lệ cây con không bình thường, và tỷ lệ lẫn giống khác. Các chỉ tiêu này được đánh giá theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và tiêu chuẩn quốc tế (ISTA). Mẫu phân tích (40 gam) được tách từ mẫu gốc. Hình 3.5 mô tả việc kiểm tra độ ẩm của mẫu hạt sau khi thu thập.

IV. Kết Quả Ảnh Hưởng Mật Độ Sạ Đạm Đến Bệnh Hại Hạt Lúa

Kết quả nghiên cứu cho thấy các giống lúa OM 2517, OM 1490, OM 50404, OMCS 2000 và Jasmine là những giống lúa chiếm đa số diện tích canh tác trong vụ Hè Thu. Phần lớn hạt giống lúa được nông dân tự chọn và trao đổi lẫn nhau. Hầu hết các mẫu hạt giống đều nhiễm nấm bệnh, đặc biệt là Alternaria padwickiiBipolaris oryzae. Thí nghiệm ngoài đồng cho thấy mật độ gieo sạ dày và bón đạm nhiều làm tăng nguy cơ bệnh lem lép hạt. Dùng hạt giống nhiễm nấm bệnh cao thường có ti lệ hạt lem nhiều, tỉ lệ hạt lép cao dẫn đến năng suất lúa thấp hơn so với đối chứng dùng giống sạch (p < 0,05).

4.1. Tình Hình Nhiễm Nấm Trên Hạt Giống Lúa Tại An Giang

Alternaria padwickii xuất hiện trên 90 mẫu hạt, tỉ lệ nhiễm 15,89 - 24% và là tác nhân gây ra bệnh phỏng lá nhỏ. Bipolaris oryzae, tỉ lệ nhiễm 7,87% - 10,12% là tác nhân gây ra bệnh đốm lá lúa. Curvularia lunata gây bệnh đốm lá nhỏ, tỉ lệ nhiễm 5,47 — 8,33%. Fusarium moniliforme gây ra bệnh lúa von xuất hiện trên 90 mẫu hạt và tỉ lệ nhiễm 0,87 — 3,93%.

4.2. Mật Độ Sạ Lượng Đạm Ảnh Hưởng Đến Bệnh Lem Lép Hạt

Những nghiệm thức sạ dày (160, 200 kg/ha) và bón đạm nhiều (120 kg/ha) dẫn đến bệnh lem lép hạt phát triển mạnh, gây hại nặng làm cho năng suất lúa thấp hơn khi so với nghiệm thức sạ thưa (80 -120) và bón đạm thấp (80 kg/ha) (p < 0,05). Bệnh đốm vằn phát triển mạnh ở các nghiệm thức sạ dày và bón đạm cao. Bang 4.20, 4.21 và 4.22 trình bày chi tiết ảnh hưởng của mật độ sạ và lượng đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất và tỷ lệ nhiễm nấm.

4.3. Chất Lượng Hạt Giống Lúa Thực Tế Tại An Giang Năm 2003

Hầu hết mẫu hạt lúa giống có chất lượng chưa cao, 93% số mẫu có độ ẩm cao vượt quá qui định cho bảo quản (13,5%). Các chất tạp (>37%), lẫn hạt giống khác nhiều, hat lúa cỏ và hạt cỏ dại lẫn nhiều trong mẫu. Tỉ lệ nẩy mầm (70,18%) thấp hơn qui định cho giống lúa (>85%). Tỉ lệ hạt chết (17%), hạt thối cũng như cây con dị hình (12%) ở hầu hết các giống. Bảng 4.13 và 4.14 thể hiện chi tiết về độ ẩm và độ sạch của các mẫu hạt giống lúa.

V. Kết Luận Kỹ Thuật Canh Tác Tác Động Lớn Đến Bệnh Hạt Lúa

Nghiên cứu khẳng định bệnh trên hạt giống lúa là vấn đề nghiêm trọng tại An Giang, đặc biệt là do nấm Alternaria padwickiiBipolaris oryzae. Các biện pháp kỹ thuật canh tác, đặc biệt là mật độ gieo sạ và lượng đạm bón, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của bệnh lem lép hạt. Cần có các giải pháp đồng bộ để cải thiện chất lượng hạt giống, áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý, và tăng cường công tác kiểm soát bệnh hại.

5.1. Giải Pháp Cải Thiện Chất Lượng Hạt Giống Lúa Hè Thu

Cần khuyến khích nông dân sử dụng hạt giống có nguồn gốc rõ ràng, đã qua kiểm nghiệm và chứng nhận chất lượng. Tăng cường công tác tập huấn, chuyển giao kỹ thuật về sản xuất hạt giống cho nông dân. Đầu tư cơ sở vật chất cho các trung tâm giống để nâng cao năng lực sản xuất và kiểm nghiệm hạt giống.

5.2. Điều Chỉnh Biện Pháp Canh Tác Để Giảm Thiểu Bệnh Lúa

Khuyến cáo nông dân giảm mật độ gieo sạ, bón phân đạm cân đối, và áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). Tăng cường sử dụng các loại phân bón hữu cơ để cải tạo đất và tăng cường sức đề kháng của cây lúa. Luân canh cây trồng để cắt đứt nguồn bệnh. Quan trọng hơn, cần xây dựng quy trình canh tác lúa bền vững, thân thiện với môi trường.

5.3. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Bệnh Hại Lúa Hè Thu

Cần có thêm nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố khác như thời vụ, chế độ tưới tiêu, và giống lúa đến sự phát triển của bệnh trên hạt. Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sinh học bệnh hại trên hạt giống. Đánh giá hiệu quả kinh tế của các biện pháp phòng trừ bệnh hại trên hạt giống.

28/05/2025
Luận văn thạc sĩ bảo vệ thực vật kiểm tra sức khỏe hạt giống lúa tại an giang và ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật canh tác đến bệnh trên hạt vụ hè thu 2003

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tỉnh An Giang là vùng sắn xuất lúa trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long. Cây lúa chiếm đa số diện tích canh tác đồng thời là nguồn thu nhập chính của đa số người nông dân. Bà con nông dân tại đây đã có những thích ứng và chuyển đổi hình thức sản xuất lúa hàng hóa. Cây lúa được thâm canh cao, tăng vụ, bón đạm nhiều và gieo sạ dày với hy vọng nâng cao năng suất lúa, góp phần cải thiện cuộc sống.

Tuy nhiên cũng chính vì những lý do này đã làm cho bệnh hại bộc phát trên lá, hạt lúa dẫn đến thiệt hại đáng kể đến năng suất. Cây lúa bị bệnh có chất lượng gạo thương phẩm kém gây khó khăn cho việc xuất khẩu và làm tăng chi phí san xuất. Để giải quyết những tổn tại này chúng ta phải bắt đầu ngay từ khâu giống. Hạt giống lúa tốt và sạch bệnh sẽ là yếu tố cơ bản cho sự thắng lợi của mùa màng, với chi phí thấp nhất mà nông dân có thể thực hiện được.

Bên cạnh đó, kỹ thuật canh tác lúa như mật độ gieo sạ thích hợp, bón phân cân đối và hiểu biết về sâu bệnh gây hại là những yếu tố rất quan trọng trong sản xuất lúa. Chất lượng hạt lúa giống và kỹ thuật canh tác lúa hàng hóa tại An Giang chưa bắt kịp sự đòi hỏi của thị trường và ít được quan tâm, nghiên cứu, giải quyết từ lâu nay. Bắt nguồn từ lý do nêu trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu về sức khỏe và chất lượng hat lúa giống, đồng thời tìm hiểu ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác đến bệnh trên hạt. Đề tài “Điều tra sức khỏe hạt lúa giống tại An Giang và ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật canh tác đến bệnh trên hạt vụ hè thu 2003” được thực hiện từ tháng 4 năm 2003 đến tháng 10 năm 2003 tại Bộ Môn Bệnh cây, Trại thực nghiệm thuộc Viện Nghiên Cứu Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Theo định nghĩa của Hội kiểm nghiệm hạt giống Quốc tế (ISTA., 1985) sức khóe hạt giống trước hết cho biết sự hiện diện hay vắng mặt của vi sinh vật gây bệnh như nấm, vi khuẩn, virút và tuyến trùng, côn trùng, những điều kiện sinh lý cây trồng như thiếu các nguyên tố vi lượng cũng được xem xét.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 2.1 Sự hình thành của một số tổ chức nghiên cứu về sức khỏe hạt giống lúa Nghiên cứu sức khỏe hạt giống được các nước phát triển rất chú trọng, đặc biệt là các nước ở Châu Âu trong đó có Đan Mạch. Chính phủ Đan Mạch thành lập một Viện nghiên cứu bệnh hạt giống cho các nước đang phát triển (DGISP). Viện này tập trung chủ yếu vào nghiên cứu bệnh trên hạt giống và hoạch định chính sách về quản lý sức khỏe hạt giống cho các nước đang phát triển. Ngay từ những năm 1970, Viện đã có nhiều công trình hợp tác nghiên cứu về nấm, vi khuẩn và virút truyền bệnh qua hạt giống.

Trên lúa có nhiều bệnh có nguồn gốc từ hạt như: Đạo ôn (Pyricularia grisea), Đốm nâu (Bipolaris oryzae), Lúa von (Fusarium moniliforme), Khô đầu lá (Microdocium oryzae), Thối be (Sacrodochium oryzae, Pseudomonas fuscovaginae), Thối hat (Pseudomonas glumae) va bénh Than vang (Ustilaginoidea virens). Hién nay Vién (DGISP) dang có chương trình hợp tác với nước ta trong nghiên cứu về sức khỏe hạt giống và đồng thời giúp đào tạo, hoạch định chính sách quản lý giống cây trồng. Trong dự án DANIDA, chính phủ Đan Mạch giúp Việt Nam đào tạo cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý hạt giống, tài trợ và xây dựng phòng thí nghiệm về bệnh hạt giống và các nhà máy chế biến hạt giống đạt tiêu chuẩn Quốc Tế (BONN&PTNT, 2001). Tại châu Á, Viện nghiên cứu Lúa Quốc Tế (IRRI) được thành lập năm 1960 tại Philippines, sau đó Phòng sức khỏe hạt giống lúa được thành lập năm 1982.2 Những kết quả nghiên cứu về tác nhân gây bệnh có nguồn gốc từ hạt và sự xuất hiện bệnh trên cây lúa Tại IRRI đã kiểm tra hơn 500.000 lô hạt lúa giống và phát hiện hơn 80 loài nấm ki sinh, trong đó Alternaria padwickii có mức nhiễm cao nhất 80 — 90% (Mew và Gonzales, 2002).

Trong số các loài vi khuẩn xuất hiện trên hạt giống lúa có 2% gây bệnh là do Bukholderia sp., 4% gây bệnh nám be lúa (Cottyn va ctv, 2001). Các loại nấm được phát hiện trên hạt là hơn 53 loài, trong đó có 15 loài gây bệnh trên lá và trên thân lúa (Merca và ctv, 2001). Các bệnh quan trọng trên cây lúa như bệnh đạo ôn (Pyricularia grisea), đốm van (Rhizoctonia solani), đốm nâu (Bipolaris oryzae), bệnh bạc lá vi khuẩn (Xanthomonas oryzae), bệnh Tungo (rice tungo baciliform virus) và một số bệnh quan trọng khác được suy xét là có nguồn gốc từ hạt (Richardson, 1990; Agarwal và ctv, 1989). Tất cả các tác nhân gây bệnh này tấn công tất cả các bộ phận như lá, thân, hạt và rễ gây thiệt hại đến năng suất.

Trong số các tác nhân gây bệnh cho cây lúa thì các loại vi khuẩn được trình bày trong bảng 1 dưới đây, chúng gây bệnh ở cây lúa và có thể truyền bệnh qua hạt giống (Mew và ctv, 1988).1: Những bệnh vi khuẩn quan trọng gây bệnh cho cây lúa (Ou, 1985) Tác nhân gây bệnh Bệnh gây hại trên lúa Xanthomonas campestis pv. oryzae Bệnh bac lá lúa Xanthomonas campestis pv.oryzicola Bénh soc trong Pseudomonas syringae pv. panici Bệnh đốm soc Pseudomonas syringae pv. syringae Bệnh thối be Pseudomonas fuscovaginae Bénh soc nau ma Pseudomonas glumae Bệnh thối hat Erwinia chysanthemi Bệnh thối gốc lúa Các loại vi khuẩn khác Bệnh thối và đen hạt lúa Các loại nấm gây bệnh cho lúa có khoảng 56 loại, chúng gây bệnh trên lá, thân, bẹ lá, rễ và gây bệnh trên hạt.

Trong số này có 33 loại gây ra những bệnh quan trọng trên lúa (Mew và ctv, 1988). Theo tác giả hầu hết các tác nhân gây bệnh trên lúa trong bảng 2.2 dưới đây có nguồn gốc từ hạt giống.2: Những loài nấm quan trọng được ghi nhận có khả năng truyền bệnh qua hạt giống (Richardson, 1990; Agrwal, 1989) Alternaria padwickii Bệnh phỏng lá nhỏ Ascochyta oryzae Bệnh mất màu vỏ trấu và lá lúa Bipolaris oryzae Bệnh đốm nâu lúa Cercospora janseana Bệnh gạch nâu lá lúa Curvularia sp. Bệnh đen vỏ hạt Ephelis oryzae Bệnh Udbatta (Nấm hương) Fusarium moniliforme Bệnh lúa von, thối gốc, mạ đực Fusarium graminearum Bệnh sẹo lúa Microdochium oryae Bệnh khô đầu lá Phoma sp. Bệnh đốm vỏ hạt Pyricularia grisea Bệnh đạo ôn (cháy lá) Rhizoctonia solani Bệnh đốm văn (ung thư) Sarocladium oryzae Bệnh thối bẹ Tilletia barclayana Bệnh than đen Ustilaginoidea virens Bệnh hoa cúc, than vàng Xanthomonas oryzae Bệnh cháy bìa lá Theo cách đánh giá và phân loại về bệnh nấm gây hại trên lúa có nguồn gốc từ hạt của Kato và ctv (1988), chúng được phân thành 4 loại: i) Các loài nấm như Pyricularia grisea, Bipolaris oryzae, Fusarium moniliforme, Alternaria padwickii và Ephelis oryzae, chúng xâm nhập qua vỏ trấu và mày lúa gây ra bệnh trên cây mạ.

ii) Nấm Curvularia lumata, Alternaria padwickii, Bipolaris sorokiniana, chúng xâm nhập qua cả vỏ trấu, may lúa. Chúng gây ra bệnh lem, den va giảm chất lượng hạt lúa. li) Các loại nấm mà chúng tạo ra một khối bào tử trên bông như bệnh hoa cúc, khi thu hoạch và chế biến các bào tử này nhiễm vào hạt gạo gây giảm giá trị thương phẩm của lúa gạo. iv) Các loại nấm mà chúng chỉ xâm nhiễm qua vỏ trấu gây ra hiện tượng đen hạt lúa, lem hat làm giảm giá trị và chất lượng hạt giống.

Những tác nhân nấm gây bệnh như Nigrospora sp., Diplodia oryzae, Cercospora oryzae này được coi là mầm bệnh yếu va các loại nấm kho vựa cũng gây hiện tượng như vậy. Chúng thường phát triển trên mày lúa. Tại 14 huyện của tỉnh Madrad, Ấn Độ đã phát hiện 21 loài nấm trên hạt lúa giống, trong đó nấm Bipolaris oryzae và Alternaria padwickii có tan xuất cao nhất (2 - 40%) ngoài ra nấm Fusarium moniliforme cũng phát hiện trên hạt. Các loại nấm kho vựa như Penicillium sp.

thấy ở một số mau, trong khi đó nấm Pyricularia grisea không hiện diện ở bất cứ mẫu nào (Reddy va Khare, 1997). Ở Sri Lanka, theo kết quả diéu tra của Jeyanadarjah và Seneviratne năm 1991 đã phát hiện thấy 26 giống nấm trên hạt lúa. Các nấm này bao gồm Acrocylindrin, Alternaria Aspergillus, Cephalosporium, Cercospora, Chaetomium, Cladosprium, Curvularia, Dreshslera, Phomopis, Fusarium, Macropmina, Magnaporthe, Myrothecium, Nigrospora, Phoma, Pyrenochaeta, Rhizopus, Sordaria, Trichoconis, Trichoderma, Trichothecium và Verticilium. Theo đánh giá của tác giả, nấm Bipolaris oryzae va Alternaria padwickii là những loài nấm có nguồn gốc từ hạt quan trọng nhất (Jeyanadarjah và Seneviratne, 1991).

Theo các tác giả như Nsemwa, Wolffhechel (1999), Jayaweera va ctv (1988) ở Sri Lanka các loài nấm kết hợp với hạt giống phổ biến nhất là Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae va Fusarium moniliforme.Trong khi đó nấm Pyricularia grisea va nấm Rhizoctonia solani rất hiếm khi xuất hiện. Veena và ctv (1996) đã phân tích 150 mẫu hạt giống lúa ở Đại học Mysore từ năm 1992 đến năm 1996, đã phát hiện vi khuẩn Xanthomonas oryzae với mức nhiễm từ 2% đến 56%. Vi khuẩn Xanthomonas oryzae có thể truyền bệnh trong tự nhiên và truyền qua hạt giống ở các giống lúa Jaya, IR 20, giống lúa Rasal. Tại Thái Lan, bệnh lem lép hat lúa được coi là một trong những bệnh quan trọng nhất của cây lúa (Disthaporn, 1999).

Bệnh lem lép gây ra bởi một tập hợp các tác nhân như: (Crvularia lunafa Fusarium moniliforme, Helminthosprium oryzae, sSaclocladium oryzae, Trichoconis padwicki, Cercospora oryzae. Một vài tác nhân trong tập hợp là tác nhân gây bệnh trên hạt, được coi như nguồn bệnh đầu tiên cho sự lan truyền bệnh trên ruộng (Ou, 1972). Tại Malaysia, các loại nấm được phát hiện trên hat lúa là Alternaria sp.3 Hiện trạng chất lượng, sản xuất giống lúa và cung cấp giống ở một số nước Đông Nam Á Ở Malaysia, xét về nguồn gốc giống lúa canh tác do nhà nước sản xuất chỉ chiếm 30%, còn lại do nông dân tự sản suất. Những tiêu chí chọn giống của nông dân lấy ở giữa ruộng, lúa bằng déu, sạch cỏ để làm giống cho vụ sau.

Nông dân thường làm sạch hạt và phơi hạt trước khi gieo như giê (93,3%), hai nông dân dùng nước muối xử lý hạt, còn hai nông dân khác dùng thuốc trừ nấm (Ali va ctv, 1996). Việc sản xuất giống lúa ở Thái Lan có cải thiện hơn, 78,98% lượng giống nông dân sử dụng của chính phủ, giống địa phương chỉ chiếm 11,07% và 9,9% là giống lúa truyền thống. Lúa cỏ là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng lẫn tạp va ở mức 5,5% chỉ sau các loại hạt cổ Lông vực (Disthaporn va ctv, 1996). Tại Bangladesh, nông dân tự để giống chiếm hơn 95%, độ lẫn tạp từ 12 - 19%, chất lượng hạt giống nẩy mầm từ 17 - 71% (Taher và Mahar, 2001).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Kỹ Thuật Canh Tác Đến Bệnh Trên Hạt Giống Lúa Vụ Hè Thu 2003" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biện pháp kỹ thuật canh tác và ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển bệnh trên hạt giống lúa. Nghiên cứu này không chỉ giúp nông dân hiểu rõ hơn về cách thức quản lý bệnh hại mà còn đưa ra những giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao năng suất lúa. Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý để giảm thiểu rủi ro và tăng cường sức đề kháng cho cây lúa.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức phân đạm tới sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lúa bt13 tại tam dương vĩnh phúc, nơi phân tích mối liên hệ giữa mật độ cấy và năng suất. Ngoài ra, tài liệu Luận văn ảnh hưởng của mật độ và số dảnh cấy khóm đến sinh trưởng phát triển và năng suất lúa tại huyện yên dũng tỉnh bắc giang cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thức mật độ ảnh hưởng đến sự phát triển của lúa. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng các mức đạm và mật độ cấy đến sinh trưởng phát triển giống lúa tbr45 tại thành phố yên bái, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các yếu tố dinh dưỡng và mật độ trong canh tác lúa. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá để bạn nâng cao kiến thức và áp dụng vào thực tiễn canh tác.