Chương 1:Đặt vấn dé Trình bày sự cần thiết, mục đích, nội dung, phạm vi, phương pháp, cấu trúc của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 17 Giới thiệu sơ lược đặc tính của cây Điều, những cơ sở lý luận khoa học, các chỉ tiêu nhằm xác định thời điểm thanh lý tối ưu đối với cây Điều. Chương 3:Tổng quan Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, những điều kiện thuận lợi, khó khăn của xã Long Hưng nhằm có những đánh giá chung ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Đánh giá thực trạng về việc sản xuất điều của xã Long Hưng.
Xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu của cây điều. Đề xuất ứng dụng vào thực tế san xuất. Chương 5: Kết luận và kiến nghị 18 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Đặc điểm của cây điều Cây điều có tên khoa học là Anacardium occdentale thuộc họ Đào lộn hột Anacardiaccae, tên tiếng Anh là Cashew được tim thấy tai Brasil vùng nhiệt đới ven biển Nam Châu Mỹ cách đây khoảng 400 năm.
Cây điều là loài cây thân mộc vùng nhiệt đới, tán lá thường xanh quanh năm, cây sống lâu năm có thể tới 30 - 40 năm hoặc hơn. Đặc điểm hình thái của cây điều 2. Thân cây Thân cây điều lâu năm thường cao từ 6-8 m, ở nơi đất tốt có thể cao tới 10-12 m và đường kính thân cây đoạn gốc có thể đạt 40-50 em. Vỏ cây cả ở thân cũng như cành khi bi tổn thương thường tiết ra nhiều mủ màu trắng trong.
Có một mối quan hệ giữa khoảng cách trông với sự sinh trưởng và phát triển của thân cây. Nếu trồng day quá thì thân cây điều tăng trưởng chiều cao mạnh, đường kính thân cây do thiếu ánh sáng nên không phát triển được khiến cây chỉ mọc vóng lên cao, đồng thời cành nhánh vừa nhỏ vừa ngắn, lá cũng thưa thớt. Với hình dạng cây như vậy khó mà có hoa, có trái nhiều. Do vậy để vườn điều sai hoa, lắm hạt thì phải trồng với khoảng cách thích hợp ngay từ lúc ban đầu.
Hệ rễ Điều là cây vừa có rễ cọc, vừa có hệ rễ ngang. Ở những vùng đất khô, mạch nước ngầm thấp, rễ cọc cây điều có thể đâm xuống rất sâu để hút nước. Do đó cây điều có khả năng chịu được hạn tốt. Hệ rễ ngang của cây điều cũng phát triển mạnh, có thể lan rộng tới 2-3 m ở tầng 50-60 cm lớp trên của đất trồng.
Như vậy, có thể nói chức năng chủ yếu của rễ cọc cây điều là hút nước cung cấp cho cây và giúp cây đứng vững trên nền đất trồng, còn hệ rễ ngang có nhiệm vụ quan trọng là tìm kiếm, hút chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng, ra hoa kết trái. Rễ cọc của cây diéu phát triển như thế nào tuỳ thuộc vào đất trồng nơi đó khô hay ẩm, tầng nước ngầm trong đất nông hay sâu. Hệ rễ ngang của điều có chức năng quan trọng là cung cấp thức ăn nuôi cây để cây phát triển mạnh tán lá và ra nhiều hoa, trái mỗi năm lại tuỳ thuộc độ màu mỡ của nơi trồng và đặc biệt là vào khoảng cách trồng day hay thưa. Khi trồng quá day hoặc khi để có nhiều cỏ đại, cây bụi cạnh tranh thì hệ rễ ngang của điều không phát triển mạnh được sẽ không cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cây nên khó lòng sai hoa, sai trái hàng năm.
Lá và tán lá Điều là loài cây có lá đơn, nguyên. Lá điều hình thuỗn hay hình trứng, đuôi lá thường hơi tròn. Lá điều non màu xanh nhạt hoặc đỏ, khi già sẽ xanh sam lại. Khi lá có màu khác thường đó là lúc cây điều bị bệnh hoặc do thiếu hụt chất dinh dưỡng trong đất, hoặc do nấm khuẩn xâm nhiễm hoặc cũng có thể cây bị sâu hại, đặc biệt là sâu đục thân, đục cành.
Nếu do sâu thì thường kèm theo sự biến đổi màu sắc lá và hiện tượng thân, nhánh, cành có nhựa mủ chay ra. Cần sớm phát hiện những cây có màu 20 sắc lá dị thường như thế để xem xét nguyên nhân và có cách phòng trị nhằm tránh dịch sâu, bệnh lây lan ra cả vườn. Cây điều có khả năng phát triển bộ tán lá rất rộng. Trong điều kiện đầy đủ ánh sáng, trồng trên đất phù hợp tán lá cây điều có thể rộng đến 5m tính từ gốc, choán một diện tích 50-60 m? ngay từ khi cây mới 6-7 tuổi.
Tán điều rộng hay hẹp, rậm hay thưa trước hết phụ thuộc vào sự phát triển dài hay ngắn, nhiều hay ít của cành và nhánh cây. Chỉ những cây có bộ tán rộng và tương đối rậm rạp, nhiều cành và nhánh mới có thể sai hoa, lắm trái. Đó là một trong những diéu kiện quan trọng để có những cây điều cho sản lượng hạt cao. Tuy nhiên can lưu ý rằng ngay cả ở những cây điều có sản lượng cao với bộ tán rậm rạp, xum xuê thì hầu hết những cành mọc ở đế tán, nằm là mặt đất đều có rất ít quả, hạt và chỉ những cành ở giữa và đỉnh tán mới sai hoa trĩu hạt.
Do vậy, trong khi chăm sóc vườn điều cần có kỹ thuật tỉa cành, tạo tán hàng năm để loại bỏ các cành, nhánh không có ích đó. Đặc điểm sinh lý Bốn yếu tố chính quyết định cho sinh trưởng và năng suất: - Lượng mưa: từ 1000 — 2000 mm/năm, đồng thời chịu mùa khô kéo dài, nếu mưa dưới 800 mm/năm thì năng suất sẽ không ổn định. - Nhiệt độ: do cây điều mọc tự nhiên ở vùng nhiệt đới nên có thể chịu được nhiệt độ cực đại đến 40°C, thích hợp với nhiệt độ trung bình là 27°C, rất nhạy cảm với nhiệt độ thấp và sương giá. 21 - Anh sáng: độ mây che thích hợp là 2 -2.
Nếu thiếu ánh sáng sâu bệnh sẽ phát triển mạnh. Độ ẩm tối cao 77 - 68%, tối thấp 40 — 56%. - Gió: khi gió lớn dễ gãy cành, rụng hoa, đổ cây. Thich hợp với tốc độ gió từ 3 - 5 m/s để truyền phấn, ít bệnh hại phát triển.
Đặc điểm sinh hoá Hoa điều nhỏ, đài hợp và năm cánh rời. Lúc mới nở cánh hoa mau trắng hoặc vàng nhạt có sọc đỏ, sau đó chuyển dần sang màu hồng sam. Hoa điều có hai loại: hoa đực và hoa lưỡng tính. Hoa đực thì chỉ gồm toàn nhị đực, hoa lưỡng tính thì ngoài 8 đến 12 nhị đực còn có một nhụy cái ở chính giữa.
Nhụy cái gồm một bầu noãn nằm dưới một vòi dài, thường là dai hơn và mập hơn nhị đực. Trong bầu noãn chỉ chứa một noãn duy nhất sẽ phát triển thành quả điều thật mà người ta thường gọi nhầm là hạt. Hoa điều thường mọc thành chùm có tới vài chục đến 1-2 trăm hoa, gồm cả hoa đực lẫn hoa lưỡng tính. Mùa hoa điều nở trùng với mùa khô.
Ở các tỉnh Đông Nam Bộ mùa hoa nở bắt đầu vào tháng 11 kéo dài tới tận tháng 3 năm sau. Cuống quả điều (ta thường gọi nhầm là quả) khi chín thịt có vị ngọt hơi chua, mùi thơm như mùi dâu chín. Phần thịt cuống quả có chứa vitamin BI, ribotlarin và một hàm lượng cao vitamin C. Vitamin C trong thịt cuống quả điều cao gấp 10 lan trong quả chuối, gấp 5 lần trong quả cam, chanh.
Ngoài việc có thể thái ra thành lát mỏng cho thêm gia vị rồi ăn sống thì phần cuống phình ra này còn có thể đóng vào hộp mang đi xa làm thức ăn có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao. Ngoài ra người ta còn dùng nó ép 22 lấy được dịch ép có vị ngọt chua. Dịch ép này khi lên men thu được thứ rượu nhẹ thơm ngon có tác dụng lợi tiểu. Rượu này còn có thể dùng để xoa bóp trong trường hợp đau nhức.
Quả điều thật (mà ta vẫn thường hay gọi nhầm là hạt điều) gồm có vỏ, quả cứng và nhân. Phần vỏ quả cứng chiếm khoảng 69% khối lượng quả, phần nhân chiếm 26%, phần còn lại là vỏ nhân. Tất cả những thành phần nêu trên đều có thể sử dụng để chế biến thành những sản phẩm có giá tri. Đặc điểm kỹ thuật Cây điều cũng là loại cây công nghiệp lâu năm, có chu kỳ sống va khai thác kinh doanh được từ 35 — 40 năm, nên cũng trai qua các giai đoạn ươm, trồng, chăm sóc và thu hoạch.
- Phương pháp trồng: có thể trồng thẳng bằng hạt, ươm bầu hoặc chiết cành để trồng. Khoảng cách trồng tuỳ vào điều kiện đất đai để chọn, nhưng phải dam bảo diện tích che phủ. Mật độ cây được khuyến cáo nên trồng để lại định hình từ 100 — 120 cây/ha (10 m*10 m) tại Bình Phước. - Kỹ thuật trồng: hố đủ rộng và sâu (60 cm*60 cm*60 cm), bón lót phân hữu cơ từ 10 — 20 kg/hố, tiêu thoát nước khi ngập úng, san bậc thang nơi đất dốc, làm cỏ sạch, phủ gốc giữ ẩm khi cần thiết, tỉa cành cải tạo vườn sau mỗi mùa thu hoạch, dam bảo lượng phân bón hang năm theo tuổi cây.
Hệ thống các chỉ tiêu áp dụng trong việc nghiên cứu Để cho việc nghiên cứu có khoa học tôi đã sử dụng các chỉ tiêu sau để phục vụ cho việc nghiên cứu: 23 Gọi B; là dòng thu tiền tệ suốt cả chu kỳ kinh doanh vườn điều bao gồm: Tổng giá trị thu được từ bán sản phẩm hạt điều thu được, giá trị thu hồi sau khi thanh lý vườn cây còn lại. Gọi C; là dòng chi tiền tệ của một chu kỳ kinh doanh vườn điều bao gồm: chi phí cho năm trồng mới, chi phí cho những năm kiến thiết cơ ban và chi phí cho giai đoạn san xuất kinh doanh. Hiệu số P(B; — C; ) là lãi thu được từ việc san xuất suốt một vòng đời của cây điều. Để có kết luận tương đối chính xác nhằm tránh sự chi phối bởi sự mất giá của đồng tiên, tôi quy giá trị đồng tiền về thời điểm đầu tiên (năm trồng mới) lãi suất chiết khấu 8.73 %/năm (tính theo lãi suất cho vay năm 2004 là 0.
Chỉ tiêu lợi ích ròng hiện tại - Net Present Value (NPV) Lợi ích ròng hiện tại biểu hiện lợi ích ròng thực tế (chính là lợi nhuận ròng thực tế đối với đầu tư tư nhân) có tính đến yếu tố giá trị tiền tệ theo thời gian. Được hiểu như tổng lợi nhuận tích tụ từ dự án cho chủ đầu tư. Nó là tổng số của các hiệu số hiện giá lợi ích và hiện giá chi phí.