Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Việt Nam học (mã số: 62 22 01 13) với đề tài "Thực trạng và định hướng phát triển bền vững sinh kế đô thị cổ Hà Nội" được nghiên cứu sinh Trịnh Thị Hạnh thực hiện tại Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phạm Hồng Tung, bảo vệ năm 2019.
Về tính cấp thiết, nghiên cứu sinh chỉ rõ sinh kế là phương thức con người ở cấp độ cá nhân và cộng đồng phát huy mọi nguồn lực vật chất và phi vật chất để tạo ra phương tiện sống. Tại Việt Nam, phần lớn các nghiên cứu sinh kế trước đây tập trung vào khu vực nông thôn – nơi xảy ra "khủng hoảng sinh kế" do biến đổi khí hậu, thiên tai hoặc mất đất sản xuất do đô thị hóa và xây dựng khu công nghiệp. Nghiên cứu sinh kế cư dân đô thị, đặc biệt là đô thị lõi lịch sử, vẫn còn khiêm tốn. Đô thị cổ Hà Nội (khu vực 36 phố phường) là trung tâm kinh tế, văn hóa quan trọng, nơi cư dân không chỉ giải quyết bài toán mưu sinh mà chủ yếu hướng tới mục tiêu vươn lên làm giàu bền vững. Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng: mật độ dân số quá cao, phân bố không hợp lý, ô nhiễm môi trường, hạ tầng giao thông và dịch vụ công (y tế, giáo dục, giải trí) quá tải. Các chính sách giãn dân và quy hoạch chưa đạt hiệu quả cao, đặt ra khoảng trống cần khảo sát thực chứng, phân tích các mô hình sinh kế nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho quản lý phát triển đô thị.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Khảo sát, đánh giá thực trạng sinh kế của cư dân thuộc khu vực đô thị cổ Hà Nội tại ba phường thuộc quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm.
- Phân tích các yếu tố tác động tới mô hình sinh kế của cư dân tại ba địa bàn khảo sát nói trên.
- Làm rõ định hướng phát triển sinh kế của người dân trong thời gian tới.
- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm duy trì, phát triển bền vững các mô hình sinh kế đô thị phù hợp, hiệu quả đối với Hà Nội trong bối cảnh hội nhập.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm ba điểm:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về sinh kế, sinh kế bền vững và sinh kế đô thị Hà Nội.
- Khảo sát, phân tích thực trạng và định hướng sinh kế đô thị của vùng nội thành ở ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm.
- Đề xuất các giải pháp nhằm duy trì, phát triển những mô hình sinh kế hiệu quả, bền vững và phù hợp.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra gồm 4 câu hỏi:
- Hướng tiếp cận nào phù hợp với nghiên cứu sinh kế đô thị bền vững nói chung và sinh kế ở vùng đô thị cổ Hà Nội nói riêng?
- Thực trạng sinh kế hiện nay ở ba phường thuộc quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm vùng nội thành Hà Nội có những đặc điểm gì? Những vấn đề gì đang đặt ra cơ bản và cấp bách nhất trong quá trình hội nhập? Yếu tố nào tác động chủ yếu tới mô hình sinh kế hiện nay?
- Định hướng sinh kế nào là bền vững, hiệu quả và phù hợp hiện nay cho ba phường thuộc quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm?
- Các giải pháp để phát triển bền vững mô hình sinh kế phù hợp cho ba phường thuộc quận Hoàn Kiếm: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu của luận án gồm 4 nội dung:
- Số lượng dân nhập cư càng nhiều thì hoạt động sinh kế bị ảnh hưởng càng lớn; cơ chế, chính sách phù hợp hoặc không phù hợp có tác động không nhỏ đến hoạt động sinh kế đô thị.
- Tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa sẽ ảnh hưởng khá nhiều tới hoạt động sinh kế từng khu vực, đồng thời tạo ra sự chênh lệch thu nhập giữa các hộ gia đình.
- Khi các nguồn lực phát triển sinh kế bị tác động, người dân thường có những điều chỉnh phù hợp đối với các hoạt động sinh kế tùy thuộc vào năng lực thích ứng của họ, được phân chia thành hai cấp độ: thích ứng bị động và thích ứng chủ động.
- Để tăng cường năng lực thích ứng sinh kế của người dân trong dài hạn, bên cạnh nỗ lực tự thân của hộ gia đình, cần có các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước nhằm giúp người dân chuyển từ trạng thái thích ứng bị động sang thích ứng chủ động.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các loại hình sinh kế của cư dân tại ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm thuộc quận Hoàn Kiếm, khu vực đô thị cổ Hà Nội.
- Phạm vi không gian: Không gian đô thị cổ Hà Nội, tập trung khảo sát điển hình tại ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc và Hàng Buồm. Đây là ba phường trung tâm phản ánh rõ nét ba loại hình hoạt động đặc trưng: thương mại vải lụa/quần áo (Hàng Đào), nghề kim hoàn truyền thống (Hàng Bạc), dịch vụ ẩm thực và du lịch (Hàng Buồm).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát, phân tích sinh kế giai đoạn từ năm 1986 đến nay, có đối sánh với giai đoạn trước năm 1986 và định hướng phát triển sinh kế đến giai đoạn 2018–2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm công trình chính:
Nhóm thứ nhất: Các nghiên cứu chung về Thăng Long - Hà Nội. Tác giả dẫn số liệu thống kê đến tháng 11/2015 có ít nhất 8.000 công trình nghiên cứu về Hà Nội. Theo tổng thuật của Vũ Văn Quân và Đỗ Thị Hương Thảo (2008), tiến trình nghiên cứu về Hà Nội qua ba thời kỳ gồm: trước năm 1945 (160 công trình, chủ yếu về lịch sử, y tế, kinh tế do người Pháp thực hiện); thời kỳ 1946–1975 (234 công trình, nổi bật là lĩnh vực lịch sử với 154 công trình do các học giả miền Bắc thực hiện); thời kỳ 1976–2008 (hơn 5.000 công trình, tăng vọt qua các dịp kỷ niệm giải phóng Thủ đô 1994 và Đại lễ 1.000 năm Thăng Long). Giai đoạn 2009–2015, Phạm Hồng Tung tổng hợp có thêm 424 công trình nghiên cứu và 164 luận án tiến sĩ liên quan đến Hà Nội.
Về làng nghề và kinh tế truyền thống, các công trình được điểm lại gồm: Bùi Văn Vượng (2002) với Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam; Trần Thúy Anh (2009) với Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ; Trương Minh Hằng chủ biên (2012) với Tổng tập nghề truyền thống Việt Nam (6 tập). Về các công trình nhìn nhận Hà Nội như một chỉnh thể độc lập, luận án ghi nhận: Trần Quốc Vượng và Vũ Tuân Sán (1975) với Hà Nội nghìn xưa; Trần Quốc Vượng (1984, 2000) với Hà Nội – Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Trên mảnh đất ngàn năm văn vật; Nguyễn Văn Uẩn (2000) với bộ sách Hà Nội nửa đầu thế kỉ XX; Nguyễn Thừa Hỷ với chuyên luận Thăng Long - Hà Nội thế kỉ XVII - XVIII - XIX; Philippe Papin (2015) với Lịch sử Hà Nội; Phùng Hữu Phú chủ nhiệm đề tài (2010) về tiềm lực tự nhiên, kinh tế, xã hội Thủ đô; các khảo cứu của Đỗ Văn Ninh, Phạm Hân, Nguyễn Khắc Đạm, Đặng Thái Hoàng và chuỗi tác phẩm của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc. Về quản lý đô thị và chuyển đổi làng nghề, luận án điểm qua công trình của Nguyễn Đình Hương (2000), Nguyễn Viết Chức (2002), Lê Du Phong - Nguyễn Văn Áng - Hoàng Văn Hoa (2002), Vũ Quốc Tuấn (2010), Vũ Trọng Lâm (2015), cùng các đề án của UBND TP. Hà Nội ban hành năm 2010 (Quyết định 554/QĐ-UBND) và năm 2013 (Quyết định 7430/QĐ-UBND).
Nhóm thứ hai: Các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn chung về sinh kế. Luận án điểm lại các lý thuyết nền tảng từ Robert Chambers (1983) trong Rural development: Putting the last first, Chambers và Conway (1991, 1992) về khái niệm sinh kế bền vững cấp hộ gia đình; Emily A. Lavenda (2001) về phương diện mưu sinh; các khung can thiệp của các tổ chức quốc tế như DFID (Cơ quan Phát triển Quốc tế Anh), UNDP, OXFAM, CARE, IFAD; các công trình của F. Ellis (1998, 2000) về đa dạng hóa sinh kế và 5 nguồn vốn tài sản sinh kế; Barrett và Reardon (1998); Koos Neefjes (2000) về môi trường và sinh kế; các lý thuyết của Amartya Sen. Tại Việt Nam, luận án ghi nhận công trình của Võ Văn Tuấn và Lê Cảnh Dũng (2015) với Phân tích sinh kế, lý thuyết và thực tiễn; Nguyễn Văn Sửu (2010) với bài viết giới thiệu khung phân tích sinh kế bền vững của DFID trên Tạp chí Dân tộc học; Phạm Bảo Dương (2007); Đặng Ngọc Quang và Đặng Đình Thành (2008); tài liệu dự án của Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ngân hàng Thế giới (2014); tài liệu của Trung tâm Phát triển nông thôn bền vững (2014); cùng kỷ yếu hội thảo bảo đảm sinh kế cho nhóm lao động yếu thế (2017).
Nhóm thứ ba: Các nghiên cứu sinh kế cụ thể theo địa bàn và nhóm đối tượng tại Việt Nam. Các tác giả trước đây tập trung vào sinh kế nông thôn, sinh kế vùng chuyển đổi đất nông nghiệp, tái định cư và vùng dân tộc thiểu số: Nguyễn Trọng Đắc, Nguyễn Thị Minh Thu, Nguyễn Viết Đăng (2007) khảo sát tại Hưng Yên; Vương Xuân Tình và Mai Văn Thanh (2010) ứng dụng ngũ giác sinh kế nghiên cứu an ninh lương thực; Lê Trọng Toán (2014) tại Hòa Bình; luận án của Hoàng Huy Tuấn (2015) tại Thừa Thiên Huế; Nguyễn Văn Tạo (2016) và Nguyễn Đức Hữu (2015) tại Hải Dương; Nguyễn Văn Cường (2015) về ngư dân Hải Phòng; Nguyễn Thị Tám (2017) về cư dân vạn chài sông Lô; Đinh Trung Kiên (2016) tại vịnh Bái Tử Long; Nguyễn Thị Lan Hương (2017) về lao động bị thu hồi đất; Bùi Văn Đạo (2011), Hùng Văn Thạnh (2012), Nguyễn Văn Dũng (2016) về di dân tái định cư; Hoàng Mạnh Quân (2006), Phạm Thị Thu Hà (2012), Bùi Sỹ Tuấn (2015), Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2016), Lý Cẩm Tú (2017), Lê Thị Thỏa và Nguyễn Thị Thu (2017) về sinh kế các tộc người thiểu số.
Khoảng trống nghiên cứu: Đa số công trình hiện có chỉ tập trung vào khu vực nông thôn mất đất, vùng sâu vùng xa hoặc ứng phó thiên tai, nghèo đói. Chưa có công trình chuyên sâu nào vận dụng khung lý thuyết sinh kế bền vững để nghiên cứu một cách hệ thống địa bàn đô thị cổ Hà Nội – nơi có mật độ kinh tế cao, cấu trúc xã hội truyền thống đan xen hiện đại, và sinh kế không dừng lại ở mức thoát nghèo mà hướng tới làm giàu và bảo tồn di sản trong quá trình tái cấu trúc đô thị.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận về sinh kế, sinh kế đô thị và khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh), phân tích sự tác động qua lại giữa 5 loại tài sản/nguồn vốn sinh kế (ngũ giác sinh kế) của hộ gia đình:
- Nguồn vốn tự nhiên: Vị trí địa lý không gian phố cổ, diện tích đất ở và diện tích mặt bằng sản xuất kinh doanh của hộ.
- Nguồn vốn vật chất: Hạ tầng đường giao thông, phương tiện kinh doanh, khả năng tiếp cận điện thoại, điện lưới, nước sạch, hệ thống chợ dân sinh và chợ đêm.
- Nguồn vốn tài chính: Tiền tích lũy/tiết kiệm, thu nhập hàng tháng, nguồn vốn vay ngân hàng hoặc huy động người thân, các chính sách hỗ trợ tài chính từ Nhà nước.
- Nguồn vốn con người: Số lượng lao động đang làm việc trong hộ, trình độ học vấn, tay nghề, kỹ năng thương trường và bí quyết nghề truyền thống.
- Nguồn vốn xã hội: Mạng lưới họ hàng, phường hội, tổ chức đoàn thể xã hội, sự gắn kết cộng đồng dân cư, kênh tiếp cận thông tin chính thống và phi chính thống.
Khung phân tích sinh kế đô thị của luận án đặt các nguồn vốn này trong bối cảnh dễ bị tổn thương (áp lực đô thị hóa, biến động thị trường, ô nhiễm môi trường, dân số nhập cư) và sự chi phối của cấu trúc thể chế, chính sách (các quy định quản lý trật tự vỉa hè, quy hoạch giãn dân, bảo tồn phố cổ) nhằm tạo ra các chiến lược sinh kế (sản xuất, dịch vụ, du lịch) và đem lại các kết quả sinh kế (thu nhập, việc làm, mức độ hài lòng cuộc sống).
Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng trong khuôn khổ tiếp cận liên ngành của Khu vực học:
- Phương pháp khảo sát thực tế liên ngành: Quan sát thực địa không gian sống, không gian kinh doanh tại ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm; tiếp xúc ghi nhận ý kiến người dân, khách du lịch và chính quyền sở tại.
- Phương pháp phỏng vấn sâu (PVS): Thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân (5 cuộc/phường, thực hiện vào tháng 10/2017) với các chủ hộ đại diện cho 3 nhóm sinh kế: sản xuất, dịch vụ, du lịch.
- Thảo luận nhóm tập trung: Tiến hành 6 cuộc thảo luận nhóm (tháng 10/2017, quy mô 6–8 người/cuộc), phân bổ 2 cuộc/phường cho 2 nhóm đối tượng: cán bộ lãnh đạo phường và đại diện các hộ gia đình thuộc 3 nhóm sinh kế.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát chính thức tiến hành vào tháng 12/2017 với tổng số 360 phiếu phát ra, thu về 300 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 83,33%).
- Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên có phân tổ dựa trên ngành nghề sản xuất, kinh doanh chính của hộ.
- Xử lý và phân tích dữ liệu: Dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 20. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, kiểm định tương quan và mô hình kinh tế lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) được áp dụng để lượng hóa tác động của các nguồn lực đến hoạt động và kết quả sinh kế.
Cơ cấu mẫu khảo sát thực tế của luận án được tổng hợp như sau:
| Địa bàn phường |
Hộ sản xuất |
Hộ dịch vụ |
Hộ du lịch |
Tổng số mẫu hợp lệ |
| Phường Hàng Đào |
33 |
40 |
27 |
100 |
| Phường Hàng Bạc |
35 |
35 |
30 |
100 |
| Phường Hàng Buồm |
32 |
35 |
33 |
100 |
| Tổng cộng |
100 |
110 |
90 |
300 |
Nguồn số liệu của luận án gồm:
- Dữ liệu thứ cấp: Niên giám thống kê thành phố Hà Nội và quận Hoàn Kiếm qua các năm; số liệu Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS) từ năm 2002 đến năm 2014; các báo cáo điều tra lao động và việc làm từ năm 2007; Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 và Kế hoạch năm 2019 của quận Hoàn Kiếm; các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Thành phố và các công trình khoa học đã xuất bản.
- Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu khảo sát định lượng 300 hộ dân, biên bản 15 cuộc phỏng vấn sâu và 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung thực hiện tại ba phường nghiên cứu năm 2017.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu đã công bố xoay quanh ba trục chính: lịch sử - kinh tế - văn hóa Hà Nội; cơ sở lý luận chung về sinh kế và sinh kế bền vững trên thế giới và tại Việt Nam; các nghiên cứu trường hợp về sinh kế cụ thể. Luận án phân tích chi tiết diễn trình nghiên cứu về Hà Nội qua các thời kỳ, chỉ ra rằng phần lớn công trình lịch sử tập trung khai thác giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, làng nghề ngoại thành mà ít chú ý tới cơ chế sinh kế hiện tại của cư dân lõi phố cổ. Về lý thuyết sinh kế, tác giả tổng lược đóng góp của các tổ chức quốc tế và học giả trong nước, chỉ ra sự thiếu vắng các khảo cứu thực nghiệm áp dụng khung sinh kế DFID cho vùng đô thị cổ chịu áp lực đô thị hóa cao. Từ đó, chương 1 khẳng định vị trí độc lập và tính cần thiết của luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận chung về sinh kế và sinh kế đô thị
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ: sinh kế, tính bền vững của sinh kế, khung sinh kế bền vững của DFID, đặc điểm đô thị và đô thị Hà Nội. Tác giả phân tích các chiều cạnh của sinh kế đô thị, nhấn mạnh rằng sinh kế đô thị cổ Hà Nội gắn liền với đặc trưng lịch sử "phố - nghề", nơi không gian cư trú đồng thời là không gian thương mại và dịch vụ. Khung sinh kế đô thị bao gồm bối cảnh dễ bị tổn thương (áp lực mặt bằng, trật tự vỉa hè, di dân, biến động kinh tế), 5 nguồn vốn sinh kế (tự nhiên, vật chất, tài chính, con người, xã hội), các thể chế chính sách quản lý đô thị và chiến lược sinh kế của hộ gia đình. Tác giả cũng chỉ ra các cách tiếp cận nghiên cứu sinh kế đô thị: tiếp cận con người làm trung tâm, tiếp cận liên ngành văn hóa - lịch sử - kinh tế, tiếp cận hệ thống và khả năng thích ứng của cộng đồng.
Chương 3: Thực trạng sinh kế ở khu vực đô thị cổ Hà Nội
Chương 3 trình bày các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Hoàn Kiếm và ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm. Dữ liệu thực chứng cho thấy ba phường đóng góp quan trọng vào kinh tế Thủ đô với giá trị đóng góp hàng năm ước tính khoảng 6.000 tỷ đồng vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) của Hà Nội.
- Về nguồn lực sinh kế: Diện tích ở bình quân rất chật hẹp, nhiều hộ sống trong các ngõ sâu, thiếu ánh sáng và tiện nghi; nguồn nước sạch và điện lưới cơ bản được đảm bảo nhưng hạ tầng thoát nước và xử lý rác thải chịu tải lớn. Nguồn vốn con người có ưu thế về kinh nghiệm buôn bán lâu năm, tích lũy tri thức nghề thủ công tinh xảo (nhất là nghề kim hoàn ở Hàng Bạc), song trình độ đào tạo chuyên môn chính quy và năng lực ngoại ngữ của lao động còn hạn chế. Nguồn vốn tài chính chủ yếu dựa vào vốn tự có của gia đình và vay mượn người thân; việc tiếp cận vốn vay chính thức từ ngân hàng gặp khó khăn do thiếu tài sản thế chấp độc lập (do sở hữu nhà chung, đồng sở hữu). Nguồn vốn xã hội thể hiện qua mối quan hệ xóm giềng, phường hội và sự tương trợ giữa các hộ kinh doanh lâu năm.
- Về hoạt động sinh kế: Diễn ra đa dạng theo 3 nhóm ngành: thương mại vải vóc, quần áo, chợ đêm (Hàng Đào); sản xuất, gia công, kinh doanh vàng bạc, trang sức mỹ nghệ (Hàng Bạc); ẩm thực đêm, khách sạn mini, lữ hành, dịch vụ ăn uống và giải trí phục vụ du khách (Hàng Buồm).
- Về kết quả sinh kế và tính dễ bị tổn thương: Thu nhập của các hộ kinh doanh tương đối cao so với mặt bằng chung thành phố, tuy nhiên có sự phân hóa rõ rệt giữa hộ sở hữu mặt tiền đường chính và hộ sinh sống trong các ngõ sâu. Mức độ hài lòng của người dân chịu tác động từ việc thực hiện chính sách trật tự vỉa hè, tình trạng quá tải giao thông, ô nhiễm tiếng ồn. Đặc biệt, đa số người dân bày tỏ thái độ không muốn di dời trong các dự án giãn dân sang khu đô thị Việt Hưng (quận Long Biên) do lo ngại mất đi vị trí kinh doanh và mạng lưới khách hàng truyền thống.
Chương 4: Định hướng mô hình sinh kế, quan điểm và giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho vùng đô thị cổ Hà Nội
Chương 4 phân tích 4 nhóm yếu tố tác động trực tiếp đến sinh kế: nhận thức của người dân không đồng đều, quá trình đô thị hóa nhanh, hội nhập - toàn cầu hóa, và cơ chế chính sách quản lý đô thị. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất định hướng mô hình sinh kế thích ứng cho giai đoạn 2018–2030:
- Mô hình thương mại - dịch vụ gắn với du lịch văn hóa, phát huy lợi thế chợ đêm và phố đi bộ.
- Mô hình bảo tồn và phát triển nghề truyền thống kim hoàn tại Hàng Bạc, kết hợp xưởng chế tác với điểm tham quan trải nghiệm cho khách du lịch.
- Mô hình dịch vụ ẩm thực và du lịch văn hóa tại Hàng Buồm gắn liền với bảo tồn kiến trúc nhà cổ, công trình tín ngưỡng.
Luận án xác định các điều kiện và lộ trình triển khai; đề xuất cơ chế chính sách cụ thể về hỗ trợ nghệ nhân và hộ làm nghề truyền thống, cơ chế đền bù và sinh kế thay thế cho các hộ thuộc diện giãn dân sang Việt Hưng; bảo vệ di sản văn hóa. Các nhóm giải pháp bảo đảm sinh kế bền vững bao gồm: cải thiện năng lực tiếp cận vốn vay ngân hàng; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo quản trị kinh doanh và ngoại ngữ; hoàn thiện thể chế quản lý không gian kinh doanh vỉa hè; bảo tồn không gian tín ngưỡng tôn giáo cộng đồng; và triển khai mô hình quản lý đô thị thông minh nhằm giảm ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án có những đóng góp cụ thể:
- Vận dụng thành công khung lý thuyết sinh kế bền vững (DFID) vào một địa bàn đô thị cổ đặc thù của Việt Nam, bổ sung cơ sở lý luận về sinh kế đô thị lịch sử - nơi sinh kế không đơn thuần là công cụ xóa đói giảm nghèo mà là phương thức phát triển kinh tế làm giàu gắn liền với bảo tồn di sản văn hóa.
- Làm rõ cấu trúc ngũ giác sinh kế đô thị và phân tích tính chất thích ứng hai cấp độ (thích ứng bị động và thích ứng chủ động) của cư dân đô thị trước tác động của đô thị hóa và chính sách quản lý nhà nước.
Về mặt thực tiễn, luận án đem lại các đóng góp:
- Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng gồm 300 hộ gia đình, 15 phỏng vấn sâu và 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung tại ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, phản ánh diện mạo sinh kế, cơ cấu thu nhập, nguồn vốn kinh doanh và mức độ thỏa dụng cuộc sống của cư dân phố cổ.
- Phân tích và làm rõ các rào cản thực tế đối với đề án giãn dân phố cổ sang khu đô thị Việt Hưng, chỉ ra nguyên nhân người dân không muốn di dời là do rủi ro mất tư liệu sản xuất và mặt bằng sinh kế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và các mô hình sinh kế cụ thể theo đặc thù từng tuyến phố, giúp chính quyền quận Hoàn Kiếm và thành phố Hà Nội có căn cứ thực tế để điều chỉnh chính sách quy hoạch thương mại, bảo tồn làng nghề/phố nghề và quản lý trật tự đô thị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án thừa nhận quá trình thu thập thông tin định lượng gặp rào cản do tâm lý e dè của các hộ kinh doanh buôn bán trong việc chia sẻ doanh thu thực tế, dẫn đến số phiếu điều tra hợp lệ chỉ đạt 300/360 phiếu. Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào 3 phường đại diện (Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm) thuộc quận Hoàn Kiếm, do đó khả năng khái quát hóa cho toàn bộ các phường khác trong khu vực phố cổ hoặc các khu đô thị cũ khác trên địa bàn Hà Nội còn những giới hạn nhất định.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở việc mở rộng địa bàn điều tra sang các phường còn lại của khu 36 phố phường; theo dõi và đánh giá tác động dọc (longitudinal study) đối với các hộ gia đình sau khi thực hiện các chính sách giãn dân mới; nghiên cứu ứng dụng công nghệ số và kinh tế ban đêm trong chuyển đổi mô hình sinh kế đô thị cổ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Việt Nam học, Đô thị học, Xã hội học, Kinh tế phát triển và Nhân học: Tham khảo phương pháp vận dụng khung sinh kế bền vững DFID vào địa bàn đô thị; kỹ thuật thiết kế bảng hỏi và quy trình nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính với định lượng OLS.
- Giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy về phát triển bền vững đô thị, bảo tồn di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội và kinh tế hộ gia đình đô thị.
- Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý đô thị tại UBND thành phố Hà Nội, UBND quận Hoàn Kiếm và các cơ quan ban ngành: Tham khảo các dữ liệu thực chứng về tâm tư người dân đối với chủ trương giãn dân, quản lý trật tự vỉa hè và chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế du lịch, bảo tồn phố nghề kim hoàn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát thực địa tại những địa bàn cụ thể nào và vì sao lựa chọn các địa bàn đó?
Luận án tiến hành khảo sát tại 3 phường thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội gồm: Hàng Đào, Hàng Bạc và Hàng Buồm. Ba địa bàn này được lựa chọn vì nằm ở vị trí trung tâm của khu vực 36 phố phường cổ truyền, có mật độ dân cư tập trung đông đúc và đại diện tiêu biểu cho 3 nhóm ngành sinh kế đặc trưng: thương mại thời trang - vải lụa (Hàng Đào), chế tác kim hoàn thủ công truyền thống (Hàng Bạc), và dịch vụ ẩm thực - du lịch - lữ hành (Hàng Buồm).
2. Quy mô mẫu điều tra và phương pháp xử lý dữ liệu được tiến hành ra sao?
Nghiên cứu sinh phát ra 360 phiếu điều tra, thu về 300 phiếu hợp lệ gồm: 100 hộ sản xuất, 110 hộ dịch vụ và 90 hộ du lịch. Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên có phân tổ. Dữ liệu khảo sát được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS 20; sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để phân tích tác động của các nguồn lực tới hoạt động và kết quả sinh kế. Nghiên cứu còn thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu và 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung vào tháng 10/2017.
3. Khung lý thuyết chính được sử dụng để phân tích sinh kế trong luận án là gì?
Luận án sử dụng Khung lý thuyết sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID), tập trung vào phân tích ngũ giác sinh kế gồm 5 loại tài sản/nguồn vốn: nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn vật chất, nguồn vốn tài chính, nguồn vốn con người và nguồn vốn xã hội. Các nguồn vốn này được xem xét trong mối quan hệ với bối cảnh dễ bị tổn thương, hệ thống thể chế, chính sách để làm rõ chiến lược và kết quả sinh kế của cư dân.
4. Dữ liệu thực tế cho thấy nguyên nhân nào khiến người dân phố cổ ngần ngại tham gia dự án giãn dân sang khu đô thị Việt Hưng?
Số liệu và phỏng vấn thực tế chỉ ra rằng phần lớn người dân gắn bó mật thiết với không gian phố cổ vì đây là mặt bằng mưu sinh then chốt. Việc chuyển sang khu đô thị mới làm đứt gãy mạng lưới khách hàng quen thuộc, mất đi lợi thế buôn bán mặt tiền hoặc dịch vụ du lịch, đồng thời cắt đứt các mối liên kết vốn xã hội lâu đời, dẫn đến rủi ro mất việc làm và sụt giảm thu nhập nghiêm trọng.
5. Luận án đề xuất những mô hình sinh kế trọng điểm nào cho ba phường nghiên cứu?
Luận án đề xuất ba mô hình gắn với thế mạnh từng địa bàn: mô hình phát triển thương mại - dịch vụ kết hợp chợ đêm tại Hàng Đào; mô hình bảo tồn và phát triển nghề kim hoàn truyền thống gắn với du lịch trải nghiệm di sản tại Hàng Bạc; và mô hình chuỗi dịch vụ ẩm thực, lưu trú văn hóa phục vụ khách du lịch tại Hàng Buồm.
Kết luận
Luận án của Trịnh Thị Hạnh là công trình nghiên cứu hệ thống về sinh kế cư dân đô thị cổ Hà Nội theo cách tiếp cận liên ngành của Việt Nam học và lý thuyết sinh kế bền vững DFID. Thông qua dữ liệu khảo sát thực tế tại ba phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, tác giả đã làm rõ bức tranh thực trạng các nguồn lực, hoạt động và kết quả sinh kế của cộng đồng thị dân trong bối cảnh chịu sức ép từ đô thị hóa và chính sách quản lý. Công trình chỉ rõ mối liên kết giữa việc bảo tồn không gian sống truyền thống với đảm bảo sinh kế làm giàu chính đáng của người dân, đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp có giá trị thực tiễn cho bài toán quy hoạch, giãn dân và phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội.