Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Phát triển bền vững Khái niệm "phát triển bền vững" xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" được định nghĩa "là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau".
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định "phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống. Theo Ủy ban Bruland, “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại khả năng đáp ứng những nhu cầu đó của những thế hệ tương lai”. Ban đầu, khái niệm này chỉ giới hạn trong các quan điểm về môi trường và kinh tế môi trường và kinh tế môi trường.
Ngày nay, người ta đã mở rộng ba phạm trù PTBV: bền vững về môi trường, bền vững về 6 kinh tế và bền vững về chính trị. Từ đây mọi sự PTBV đều được nhìn nhận dưới ba khía cạnh trên cùng với sự tương tác về không gian và thời gian. Theo nghĩa chung nhất, “phát triển bền vững về kinh tế” có thể được hiểu là quá trình phát triển nền kinh tế xã hội có tính liên tục và tương đối ổn định, đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không gây trở ngại cho việc đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ, phát triển bền vững về tài nguyên, môi trường. “Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau” (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam; 2004).
Nội dung (và cũng là yêu cầu) cơ bản của phát triển bền vững về kinh tế có thể được nhìn nhận, xem xét từ nhiều chiều cạnh khác nhau: + Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối ổn định và liên tục trong dài hạn; + Thay đổi mô hình tăng trưởng, chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu; chất lượng tăng trưởng và hiệu quả kinh tế ngày càng cao. + Cơ cấu kinh tế hợp lý, hài hòa giữa các ngành, các lĩnh vực; giữa các vùng, miền; giữa thành thị và nông thôn. + Phát triển kinh tế dựa trên cơ sở tri thức cao và công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các tài nguyên thiên nhiên (nhất là các loại tài nguyên không tái tạo); hạn chế và giảm thiểu tối đa các phát thải gây ô nhiễm, suy thoái môi trường từ các hoạt động sản xuất, tiêu dùng và sinh hoạt của cá nhân, doanh nghiệp, cộng đồng và xã hội. Phát triển các mô hình “kinh tế xanh/ sạch”, thay đổi mô hình tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường.
7 + Phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội: tạo việc làm đầy đủ cho người dân (đạt tới sự toàn dụng về lao động), xóa bỏ đói nghèo, nâng cao mức sống, điều kiện sống, phúc lợi và an sinh xã hội cho mọi người dân (trước hết là đảm bảo vững chắc về an ninh lương thực, cải thiện và nâng cao chất lượng phục vụ các nhu cầu cơ bản như: y tế, chăm sóc sức khỏe, vệ sinh an toàn thực phẩm, văn hóa, giáo dục,…). Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về PTBV đã được kết tinh và phản ánh đầy đủ nhất trong Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam: “Mục tiêu tổng quát của PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa của con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”. Từ những cơ sở lý luận nên trên, tác giả cho rằng: Phát triển bền vững có nội dung lớn và phong phú, không chỉ hàm nghĩa phát triển kinh tế bền vững mà còn bao hàm nội dung phát triển xã hội bền vững và gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trường sinh thái. Trong mỗi nội dung có thành tố riêng nhưng chúng luôn thống nhất biện chứng và quan hệ hữu cơ với nhau tạo lên sự phát triển bền vững.
Như vậy, việc quán triệt và nhận thức đúng đắn nội hàm của PTBV là phương pháp luận tốt khi thực hiện PTBVNN phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiện nay. Phát triển bền vững nông nghiệp a. Khái niệm nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.
8 Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển. Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng: Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân. Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai. Nông nghiệp chuyên sâu: Là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp.
Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi. Phát triển bền vững nông nghiệp Phát triển bền vững nông nghiệp là nội dung trọng yếu của chiến lược phát triển KT - XH của mọi quốc gia.
Phát triển bền vững nông nghiệp là tiền đề đảm bảo các mục tiêu phát triển KT - XH, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Tuy nhiên vào nửa cuối thập niên 1980, trong quá trình PTNN, loài người đã phải đương đầu với những thách thức có tính toàn cầu và ở từng quốc gia với mức độ nghiêm trọng khác nhau như: Sự nghèo đói, sự suy giảm về tài nguyên thiên nhiên và môi trường, áp lực dân số, sử dụng quá mức các chất hóa học…Trước những thách thức nói trên, PTBVNN mới bắt đầu được quan tâm trong hai thập niên cuối của thế kỷ XX với nhiều quan niệm khác nhau. Theo tổ chức lương thực và Nông nghiệp (FAO, 1992): Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình quản lý và duy trì sự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật 9 ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau. Sự phát triển của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp nhận về phương diện xã hội.
Định nghĩa này đã đề cập đến những vấn đề cốt lõi của PTBVNN trên cả ba phương diện là sự phát triển hài hòa ba nhóm mục tiêu: Kinh tế, xã hội và môi trường đồng thời chỉ rõ cách thức thực hiện để hướng đến phát triển nông nghiệp bền vững. Tổ chức về môi trường sinh thái thế giới (WCED) đưa ra định nghĩa: Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được các nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau. Định nghĩa trên chỉ đề cập khái quát tới vấn đề PTBVNN nói chung chưa đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể. Ở nước ta, vấn đề PTBVNN là một trong những nội dung được đề cập ở Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về “Định hướng phát triển ở Việt Nam” chỉ rõ: “Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình sản xuất ngày càng nhiều hàng hóa theo yêu cầu của thị trường, phải đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo tồn và phát triển được các nguồn tài nguyên như đất, nước, không khí, rừng và đa dạng sinh học.