CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm a. Nông nghiệp Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi.
Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản nữa [5]. Nông nghiệp là ngành duy nhất tạo ra lương thực, thực phẩm, đây là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là ở các nước đang phát triển. Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông.
Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỉ lệ GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Nông nghiệp là ngành sản xuất mà đối tượng của nó là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi, bị chi phối bởi quy luật sinh học và các điều kiện ngoại cảnh. Vì vậy trong quá trình phát triển nông nghiệp, con người không thể ngăn cản hay can thiệp thô bạo vào quá trình sinh vật, trái lại phải nghiên cứu và nhận thức đúng đắn quy luật sinh trưởng, phát triển của mỗi loại cây và sự biến thiên về điều kiện thời tiết - khí hậu để vận dụng thích hợp vào sản xuất. Đòi hỏi có những giải pháp thích hợp đảm bảo cho phát triển nông nghiệp bền Luan van 5 vững như phân vùng, quy hoạch các vùng nông nghiệp, bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế từng vùng, từng địa phương.
Chu kỳ sản xuất nông nghiệp dài và phụ thuộc vào chu kỳ sinh học nên trong nông nghiệp, thời gian lao động không trùng khớp với thời gian tạo ra sản phẩm. Khi kết thúc một quá trình lao động cụ thể như làm đất, gieo trồng. chưa có sản phẩm ngay mà phải chờ đến khi thu hoạch. Vì vậy, đòi hỏi trong nông nghiệp phải tìm ra hình thức tổ chức kinh tế phù hợp gắn người lao động với đối tượng sản xuất và với kết quả cuối cùng để họ quan tâm và tìm cách tạo ra nhiều sản phẩm với chất lượng cao, giá thành hạ và đòi hỏi phải phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nông nhàn, tăng thêm thu nhập cho nông dân.
Phát triển Phát triển là xu hướng tự nhiên, đồng thời là quyền của mỗi một cá nhân, mỗi cộng đồng hay mỗi quốc gia. Phát triển là một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế. Mục tiêu của sự phát triển là không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống vật chất, văn hóa, tinh thần của con người. Nói cách khác, phát triển là tạo điều kiện cho con người được thỏa mãn các nhu cầu sống, được hưởng những thành tựu về văn hóa và tinh thần, có đủ tài nguyên cho một cuộc sống sung túc, được sống trong một môi trường trong lành, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được bảo đảm an ninh, an toàn, không bạo lực [1].
Theo nhà kinh tế học Dudley Seers, ít nhất phải bổ sung thêm ba đòi hỏi bắt buộc vào khái niệm phát triển, đó là giảm đói nghèo và suy dinh dưỡng, giảm bất bình đẳng thu nhập và cải thiện điều kiện việc làm. Nhà kinh tế được trao giải Nobel về kinh tế năm 1974, Gunnar Myrdal, cho rằng có một số nhóm các "giá trị phát triển" như tăng trưởng kinh tế, tăng mức sống, giảm bất bình đẳng xã hội và kinh tế, độc lập, đoàn kết dân tộc, Luan van 6 dân chủ hóa chính trị, những thay đổi tích cực về cấu trúc gia đình, văn hóa của các xã hội nông nghiệp, công nghiệp hóa và bảo vệ môi trường. Stiglitz (1989) cho rằng, "một nước có thể tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng vẫn ở trong tình cảnh tồi tệ khi xét tới các mặt như trình độ biết đọc, biết viết của người dân, sức khỏe, tuổi thọ và dinh dưỡng". Theo Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc, "Mục đích của phát triển là tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, mạnh khỏe và sáng tạo", mở rộng cơ hội lựa chọn cho người dân và tạo điều kiện để họ thực hiện sự lựa chọn đó, luôn xem "con người là trung tâm của phát triển", sự phát triển vì con người, của con người và do con người.
Phát triển phải là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định. Phát triển kinh tế là yếu tố cơ bản của sự phát triển nói chung. Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế [6]. Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất; nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia; là sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người; là sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và là sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội.
Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân. Phát triển bền vững Giữa môi trường và sự phát triển kinh tế có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển kinh tế, còn phát triển kinh tế là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường. Trong lịch sử đã có lúc phát triển kinh tế được đặt lên hàng đầu, lấn át những yếu tố khác như: xã hội, môi trường.Khuynh hướng này đã gây ra hậu quả hết sức tai hại cho cả môi trường lẫn xã hội. Ngược lại với quan điểm trên là quan điểm "tăng trưởng bằng hoặc không âm" để bảo vệ các nguồn tài nguyên hoặc "chủ nghĩa bảo tồn" chủ trương không đụng chạm vào thiên nhiên.
Vì vậy, theo các nhà khoa học con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phát triển bền vững. Chiến lược bảo vệ toàn cầu được công bố năm 1980 bởi Hiệp hội Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên - IUCN, đã nhấn mạnh rằng loài người tồn tại như một bộ phận của thiên nhiên. Loài người sẽ không có tương lai nếu thiên nhiên và các tài nguyên thiên nhiên không được bảo vệ. Thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên được sử dụng trong bản Chiến lược này, khi nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo vệ môi trường và phát triển.
Đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển bền vững. Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED - 1987) định nghĩa "phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai" và quan niệm về phát triển bền vững của tác giả Tatyana P.Soubbotina, "Phát triển "bền vững" cũng có thể được gọi bằng cách khác là phát triển "bình đẳng và cân đối", có nghĩa là để duy trì sự phát triển mãi mãi, cần cân bằng giữa lợi ích của các nhóm người trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ, và thực hiện điều này đồng thời trên cả ba lĩnh vực quan trọng có mối quan hệ qua lại với nhau - kinh tế, xã hội và môi trường" [2]. Luan van 8 Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định "phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Như vậy, có nhiều khái niệm về phát triển bền vững, thậm chí có nhiều quan điểm khác nhau.
Tổng hợp các quan điểm có thể hiểu rằng: Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển là kinh tế, xã hội và môi trường nhằm thỏa mãn được nhu cầu cầu xã hội hiện tại nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai. Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến phát triển bền vững. Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước. Chủ trương và mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam được thể hiện từ trong các Văn kiện Đại hội của Đảng và trong các chương trình hành động của Chính phủ.
Phương châm phát triển đất nước trong những năm gần đây là chủ động kết hợp giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội; phát triển con người và bảo vệ môi trường; phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhiều văn bản của Nhà nước đã được ban hành, triển khai thực hiện và "Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2004 là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ 21.