Tổng quan nghiên cứu

Nguồn lợi nghêu tự nhiên tại tỉnh Bến Tre là nguồn tài nguyên thủy sản quý giá, đóng vai trò then chốt trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Với bờ biển dài hơn 65 km, vùng lãnh hải rộng trên 26.000 km² và diện tích bãi bồi ven biển vượt 15.000 ha, địa phương sở hữu tổng trữ lượng nghêu tự nhiên ước tính 216.000 tấn, cho phép khai thác bền vững khoảng 150.000 tấn mỗi năm. Toàn tỉnh đã thành lập 9 Hợp tác xã thủy sản và 35 tổ hợp tác, thu hút 11.042 hộ gia đình xã viên tham gia quản lý, bảo vệ và thu hoạch.

Vấn đề cốt lõi hiện nay là việc tổ chức khai thác mới chỉ đạt 4.878 ha trên tổng diện tích 7.200 ha bãi triều có tiềm năng nuôi nghêu, tương đương khoảng 67,75% công suất thực tế. Cơ chế quản trị tài nguyên còn bộc lộ nhiều bất cập trong phân phối thu nhập, thiếu khung pháp lý đồng bộ về đồng quản lý thủy sản, cùng với sự gia tăng các vụ tranh chấp bãi nghêu và nạn khai thác trái phép. Những hạn chế này làm suy giảm nghiêm trọng hệ sinh thái bãi bồi, ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ sinh trưởng của đàn nghêu giống bố mẹ.

Mục tiêu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân phối lợi ích công bằng và phát triển bền vững, phân tích toàn diện thực trạng thực thi pháp luật thủy sản tại 3 huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú giai đoạn 2009 - 2017. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng các giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước nhằm bảo tồn hệ sinh thái ven bờ, bảo đảm sinh kế công bằng cho hơn 11.000 hộ dân và duy trì vững chắc chứng nhận quốc tế MSC cho thương hiệu nghêu Bến Tre.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp liên ngành giữa lý luận pháp luật kinh tế, lý thuyết quản trị tài nguyên công cộng và khoa học môi trường thông qua ba trụ cột lý thuyết cơ bản:

Thứ nhất, lý thuyết về công bằng xã hội và phân phối lợi ích trong kinh tế chính trị học. Nguyên tắc cốt lõi khẳng định sự tương xứng giữa mức độ cống hiến và mức độ hưởng thụ, bảo đảm quyền tiếp cận tài nguyên tự nhiên bình đẳng của cộng đồng dân cư bản địa. Khi nhà nước áp dụng các công cụ điều tiết hợp lý, phân phối công bằng sẽ trở thành động lực nội sinh thúc đẩy người dân tự giác bảo vệ tài sản chung.

Thứ hai, lý thuyết phát triển bền vững theo Báo cáo Brundtland năm 1987 của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED). Mô hình này đòi hỏi sự dung hòa tuyệt đối giữa ba yếu tố: tăng trưởng kinh tế hiệu quả, bảo đảm công bằng xã hội và gìn giữ môi trường sinh thái để đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai.

Thứ ba, khung lý thuyết quản trị tài nguyên dựa vào cộng đồng và cơ chế đồng quản lý (Co-management), được cụ thể hóa tại Điều 10 Luật Thủy sản năm 2017. Các khái niệm trọng tâm xuyên suốt bao gồm: quyền sở hữu toàn dân đối với tài nguyên biển, ngưỡng an toàn sinh thái khai thác 80%, chỉ dẫn địa lý và tiêu chuẩn quốc tế MSC của Hội đồng Quản lý biển thế giới.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2009 - 2017 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre, Chi cục Thủy sản, Công an tỉnh Bến Tre và Liên minh Hợp tác xã tỉnh. Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua khảo sát thực địa toàn bộ 9 Hợp tác xã thủy sản nuôi nghêu và 35 tổ hợp tác tại 3 huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú với tổng số 11.042 hộ thành viên tham gia.

Mẫu phỏng vấn chuyên sâu bao gồm 25 cán bộ quản lý thuộc Hội đồng quản trị các Hợp tác xã, đại diện chính quyền cấp xã và các chuyên gia quản lý nguồn lợi ven biển. Phương pháp chọn mẫu điển hình kết hợp ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm phản ánh khách quan tình hình sản xuất tại từng cửa sông lớn gồm Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên.

Phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm pháp luật được lựa chọn nhằm đối chiếu các văn bản luật hiện hành (Luật Thủy sản, Luật Đất đai, Luật Hợp tác xã) với thực tiễn thực thi tại địa phương. Phương pháp thống kê so sánh đối chiếu số liệu sản lượng, giá cả và các vụ tranh chấp an ninh trật tự giúp lượng hóa chính xác các điểm nghẽn thể chế và xung đột lợi ích kinh tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng quản lý và phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên tại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2009 - 2017 đã chỉ ra bốn phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, quy mô khai thác thực tế chưa tương xứng với tiềm năng sinh học tự nhiên. Toàn tỉnh mới đưa vào sử dụng 4.878 ha bãi triều, đạt 67,75% trong tổng quỹ đất 7.200 ha có thể phát triển nuôi nghêu. Sản lượng khai thác thương phẩm đạt mức bình quân 9.000 tấn mỗi năm (giai đoạn đỉnh điểm đạt 37.000 tấn), trong khi sản lượng nghêu giống dao động từ 400 đến 500 tấn mỗi năm (đỉnh điểm vượt 1.000 tấn). Nguồn giống phụ thuộc 100% vào tự nhiên tại 389 ha bãi giống bố mẹ tập trung ở các cửa sông, chưa có sự can thiệp của công nghệ sản xuất giống nhân tạo.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực quản lý Hợp tác xã còn nhiều điểm nghẽn. Thống kê cho thấy 100% cán bộ quản trị tại 9 Hợp tác xã nuôi nghêu chưa qua đào tạo trình độ đại học. Trên quy mô toàn tỉnh Bến Tre, chỉ có 4 cán bộ Hợp tác xã nông nghiệp đạt trình độ trung cấp nhưng không ai công tác trong khối Hợp tác xã nuôi nghêu. Bộ máy điều hành chủ yếu làm việc dựa trên kinh nghiệm dân gian, thiếu kỹ năng quản lý tài chính và kiến thức pháp luật chuyên sâu.

Thứ ba, tình hình an ninh trật tự trên các bãi nghêu diễn biến phức tạp do xung đột phân phối lợi ích. Từ năm 2009 đến tháng 8 năm 2015, cơ quan chức năng đã ghi nhận 36 vụ trộm cắp nghêu quy mô lớn, tiến hành khởi tố hình sự 13 vụ án với 35 bị can, xử phạt vi phạm hành chính 39 trường hợp, khởi tố 1 vụ gây rối trật tự công cộng với 3 bị can. Các xung đột trên bãi nghêu đã làm 4 người tử vong do đuối nước và 6 người bị thương do các hành vi chống đối lực lượng bảo vệ.

Thứ tư, thiếu hụt công cụ sở hữu trí tuệ và kiểm soát chuỗi giá trị. Mặc dù sản phẩm nghêu Bến Tre đã đạt chứng nhận MSC từ năm 2009 và giá bán tăng trưởng từ 10% đến 15% đối với nghêu thịt, từ 20% đến 30% đối với nghêu giống trong năm 2018, tỉnh vẫn chưa hoàn tất đăng ký chỉ dẫn địa lý để truy xuất nguồn gốc xuất xứ toàn diện.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ sự chồng chéo giữa Luật Thủy sản, Luật Đất đai và Luật Hợp tác xã trong việc phân cấp thẩm quyền giao và cho thuê mặt nước biển. Chính quyền cơ sở gặp lúng túng trong việc xác định ranh giới bãi bồi ven biển tính từ đường mép nước triều kiệt trung bình nhiều năm. Chính sách vốn vay từ ngân hàng chính sách chưa đáp ứng được nhu cầu mở rộng vùng nuôi và đầu tư thiết bị tinh lọc nghêu sạch xuất khẩu.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu ngành hàng nghêu trắng Bến Tre của tác giả Lê Xinh Nhân (năm 2010) và tác giả Lê Tân Thới (năm 2010), kết quả luận văn đã làm rõ thêm khía cạnh pháp lý của mô hình đồng quản lý. Việc thiếu vắng các quy định chi tiết về quyền sở hữu tập thể và cơ chế giám sát cộng đồng là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới hiện tượng tư lợi của ban quản trị và sự bất mãn của các xã viên.

Dữ liệu nghiên cứu về diện tích nuôi nghêu có thể được biểu diễn trực quan qua bảng tổng hợp so sánh giữa ba huyện: huyện Bình Đại dẫn đầu với 5.400 ha bãi bồi, huyện Ba Tri đạt gần 5.000 ha và huyện Thạnh Phú đạt trên 3.000 ha. Biểu đồ đường thể hiện số vụ vi phạm an ninh trật tự phản ánh mối tương quan thuận: khi giá nghêu giống trên thị trường tăng vọt 30%, tần suất các vụ xâm nhập bãi nghêu trái phép cũng gia tăng theo tỷ lệ tương ứng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo đảm phân phối công bằng lợi ích và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững nguồn lợi nghêu tự nhiên tại Bến Tre, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp đồng bộ:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý địa phương về quản lý mặt nước biển. Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre cần chủ trì rà soát, sửa đổi Quyết định số 20/2010/QĐ-UBND và Quyết định số 29/2010/QĐ-UBND trong giai đoạn 2018 - 2020. Thực hiện cơ chế giao đất bãi bồi không thu tiền sử dụng đất với thời hạn ổn định lâu dài cho 9 Hợp tác xã thủy sản theo nguyên tắc đồng quản lý, tạo điều kiện mở rộng diện tích nuôi đạt 100% tiềm năng quy hoạch (7.200 ha).

Thứ hai, nâng cao năng lực chuyên môn và chuẩn hóa nhân lực Hợp tác xã. Liên minh Hợp tác xã tỉnh phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng chương trình đào tạo quản trị kinh tế tập thể từ năm 2018 đến 2021. Mục tiêu đặt ra là 100% thành viên Ban Giám đốc và Ban Kiểm soát tại các Hợp tác xã đạt chuẩn trình độ trung cấp chuyên nghiệp trở lên, nắm vững quy chế tài chính công khai và quy trình truy xuất nguồn gốc.

Thứ ba, thiết lập cơ chế bảo vệ an ninh trật tự và ngưỡng an toàn sinh thái. Công an tỉnh Bến Tre cùng Bộ đội Biên phòng và Ủy ban nhân dân 3 huyện ven biển thành lập tổ tuần tra liên ngành cơ động hoạt động thường trực 24/7. Áp dụng nghiêm ngặt quy chế khai thác tối đa 80% tổng sản lượng nghêu hiện có mỗi năm, dành 20% trữ lượng để tái sinh tự nhiên và thiết lập vành đai bảo vệ tuyệt đối 389 ha bãi nghêu giống bố mẹ.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và xây dựng thương hiệu quốc gia. Sở Khoa học và Công nghệ cùng Sở Công thương xúc tiến hoàn thành hồ sơ đăng ký chỉ dẫn địa lý cho nghêu Bến Tre trước năm 2020, phối hợp với các viện nghiên cứu thủy sản làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo và kiểm soát chất lượng theo chuỗi cung ứng MSC để gia tăng 20% kim ngạch xuất khẩu nghêu sang thị trường châu Âu và Bắc Mỹ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học và tính ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các cấp tại tỉnh Bến Tre và các tỉnh duyên hải). Sử dụng làm căn cứ hoạch định chính sách giao đất, quy hoạch không gian biển và triển khai mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản ven bờ.

Thứ hai, Ban Quản trị, Ban Giám đốc của 9 Hợp tác xã nuôi nghêu và 35 tổ hợp tác. Ứng dụng các khuyến nghị vào việc hoàn thiện quy chế phân phối lợi nhuận nội bộ minh bạch, xây dựng phương án khai thác theo mùa vụ và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật cho 11.042 hộ xã viên.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật kinh tế, Quản lý tài nguyên và Môi trường. Khai thác dữ liệu thực chứng giai đoạn 2009 - 2017 và khung lý thuyết về phân phối công bằng để phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan đến kinh tế tập thể và luật thủy sản.

Thứ tư, các doanh nghiệp chế biến, xuất nhập khẩu thủy hải sản trong và ngoài nước. Tham khảo để xây dựng mô hình liên kết chuỗi giá trị khép kín, đầu tư công nghệ lọc sạch nghêu tươi sống và khai thác hiệu quả lợi thế thương mại từ chứng nhận tiêu chuẩn MSC.

Câu hỏi thường gặp

Ai có quyền sở hữu đối với nguồn lợi nghêu tự nhiên tại các bãi bồi ven biển?

Căn cứ Hiến pháp và Luật Thủy sản, nguồn lợi nghêu tự nhiên là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Các tổ chức, Hợp tác xã và cá nhân chỉ được cấp quyền khai thác hợp pháp thông qua quyết định giao đất, cho thuê mặt nước biển và phải tuân thủ nghiêm ngặt các nghĩa vụ tài chính cùng quy định bảo vệ môi trường sinh thái.

Cơ chế đồng quản lý theo Điều 10 Luật Thủy sản 2017 có vai trò gì đối với nghề nuôi nghêu Bến Tre?

Cơ chế đồng quản lý phân chia quyền hạn và trách nhiệm bảo vệ nguồn lợi nghêu giữa chính quyền cơ sở và 11.042 hộ gia đình thuộc 9 Hợp tác xã thủy sản. Mô hình này giúp chuyển dịch từ quản lý mệnh lệnh hành chính sang tự quản cộng đồng, giảm thiểu xung đột xã hội và bảo đảm phân phối lợi nhuận công bằng giữa các thành viên.

Vì sao Bến Tre cần phải đăng ký chỉ dẫn địa lý dù đã có chứng nhận quốc tế MSC từ năm 2009?

Chứng nhận MSC xác nhận nghề khai thác đạt chuẩn sinh thái và phát triển bền vững theo tiêu chí toàn cầu, trong khi chỉ dẫn địa lý là công cụ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ gắn liền với danh tiếng và đặc tính sinh học riêng biệt của vùng biển Bến Tre. Việc đăng ký chỉ dẫn địa lý giúp bảo vệ thương hiệu trước nguy cơ gian lận thương mại và nâng giá trị gia tăng từ 10% đến 20% khi xuất khẩu.

Tỷ lệ khai thác nghêu an toàn hàng năm được khuyến nghị là bao nhiêu để không làm cạn kiệt tài nguyên?

Luận văn khuyến nghị mức khai thác tối đa chỉ nên chiếm khoảng 80% tổng sản lượng nghêu hiện có trên các bãi triều. Việc giữ lại tối thiểu 20% sinh khối cùng với bảo vệ nghiêm ngặt 389 ha bãi giống bố mẹ tại các cửa sông là điều kiện tiên quyết để nghêu có thể tự tái đàn và duy trì trữ lượng 216.000 tấn cho các chu kỳ sinh sản tiếp theo.

Những biện pháp then chốt nào giúp xử lý dứt điểm nạn trộm cắp nghêu tại các Hợp tác xã?

Giải pháp cốt lõi bao gồm việc công khai minh bạch danh sách phân phối thu nhập cho xã viên theo đúng Luật Cư trú, thành lập lực lượng bảo vệ chuyên trách phối hợp tuần tra 24/7 với Công an và Bộ đội Biên phòng, đồng thời xử lý nghiêm các sai phạm kinh tế trong nội bộ Ban quản trị Hợp tác xã nhằm củng cố niềm tin của cộng đồng dân cư.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về phân phối lợi ích công bằng và phát triển bền vững trong quản lý nguồn lợi nghêu tự nhiên dưới góc độ Luật kinh tế.
  • Khảo sát thực chứng toàn diện hoạt động của 9 Hợp tác xã thủy sản và 35 tổ hợp tác tại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2009 - 2017, chỉ rõ tiềm năng chưa khai thác hết (mới đạt 4.878 ha trên tổng số 7.200 ha).
  • Phân tích sâu sắc các hạn chế về trình độ nhân lực Hợp tác xã, bất cập an ninh trật tự với 36 vụ trộm cắp và tình trạng thiếu hụt chỉ dẫn địa lý cho thương hiệu MSC.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm hoàn thiện khung pháp lý địa phương, nâng cao năng lực quản trị, bảo vệ an ninh trật tự và phát triển chuỗi giá trị xuất khẩu giai đoạn 2018 - 2020.
  • Các cấp chính quyền địa phương, Hợp tác xã và doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp hành động để hiện thực hóa các kiến nghị, đưa nghề nuôi nghêu Bến Tre trở thành hình mẫu phát triển kinh tế biển bền vững của cả nước.