phần mở đầu và kết luận, bố cục của đề tài bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển làng nghề truyền thống Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Chƣơng 3: Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống Chƣơng 4: Định hƣớng và một số giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 1. Lý luận về phát triển bền vững làng nghề truyền thống 1. Lý luận về làng nghề truyền thống 1. Các khái niệm Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng nhƣ hiện nay đều cho thấy, làng xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất, cũng nhƣ đời sống dân cƣ ở nông thôn.
Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những phong tục tập quán ở nông thôn vẫn đƣợc duy trì, phát triển đến ngày nay. Làng xã Việt Nam đƣợc phát triển rất lâu đời, phần lớn ngƣời dân đều làm nông nghiệp, cùng với sự phát triển đã xuất hiện những bộ phận dân cƣ sống bằng nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với nhau, hình thành thêm một số tổ chức theo nghề nghiệp tạo thành các làng nghề, phƣờng nghề, xã nghề gắn liền với địa danh của địa phƣơng, từ đó các nghề đƣợc lan truyền và phát triển thành làng nghề. Bên cạnh những ngƣời chuyên làm nghề, thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề. Nhƣng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn và thƣờng đƣợc giới hạn trong quy mô nhỏ dần dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển sang nghề thủ công.
Càng về sau xu thế ngƣời lao động tách khỏi đồng ruộng, chuyển sang làm nghề thủ công và sống bằng nghề đó ngày càng nhiều. Nhƣ vậy, làng nghề theo quan niệm lâu nay là hình thức tổ chức chuyên sản xuất phi nông nghiệp của phần lớn dân cƣ sống trong cộng đồng, thôn, ấp, bản,.bao gồm cả làng nghề truyền thống hình thành từ lâu đời và những nghề mới đƣợc hình thành do phát triển từ các làng nghề truyền thống hoặc tiếp thu những nghề mới tạo ra. Cũng có quan niệm làng nghề: Một địa bàn hay khu vực dân cƣ sinh Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 sống trong một làng có hoạt động cùng ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất ở từng hộ gia đình hoặc các cơ sở trong làng; có sử dụng nguồn lực trong và ngoài địa phƣơng, phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của ngƣời dân trong làng * Nghề Truyền thống Theo Thông tƣ 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì: “Nghề truyền thống là nghề đã đƣợc hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, đƣợc lƣu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.” Để đƣợc công nhận là một nghề truyền thống thì theo Thông tƣ 116/2006/TT BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải đạt 03 tiêu chí sau: - Nghề đã xuất hiện tại địa phƣơng từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận - Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc - Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. * Làng nghề Theo Thông tƣ 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”.
Nhƣ vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung chính sau: “Làng nghề là một thiết chế KT-XH ở nông thôn, đƣợc cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết chặt chẽ về kinh tế - xã hội và văn hóa”. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 Phân loại và tiêu chí công nhận làng nghề: Việc phân loại loại nghề cũng khá phức tạp ngƣời ta thƣờng dựa vào quy mô, lĩnh vực và lịch sử hình thành, ngành nghề sản xuất, loại hình kinh doanh, tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề. Để đƣợc công nhận là một làng nghề thì theo Thông tƣ 116/2006/TT- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải đạt 03 tiêu chí sau: (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận (3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. * Làng nghề truyền thống Khái niệm làng nghề truyền thống (LNTT) đƣợc khái quát dựa trên hai khái niệm nghề truyền thống và làng nghề nêu trên.
Theo Thông tƣ 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống đƣợc hình thành từ lâu đời”. Tác giả luận án Bạch Thị Lan Anh cho rằng : “LNTT là làng nghề đƣợc tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ƣớc chế xã hội và gia tộc”, (Bạch Thị Lan Anh, 2010). Nhƣ vậy LNTT đƣợc hình thành từ lâu đời, trải qua thử thách của thời gian vẫn duy trì và phát triển, đƣợc lƣu truyền từ đời này qua đời khác.
Trong các LNTT thƣờng có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề theo kiểu cha truyền con nối, nghĩa là việc dạy nghề đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp truyền nghề. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Đặc điểm làng nghề truyền thống Điều kiện sản xuất kinh doanh gắn bó với hộ gia đình nông thôn và ngành nông nghiệp: Nghề thủ công truyền thống bắt đầu tƣ nông nghiệp và gắn liền với sự phân công lao động ở nông thôn nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tự cung tự cấp của ngƣời nông dân và chủ yếu phục vụ nông nghiệp. Nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và là thị trƣờng tiêu thụ rộng lớn.
Lao động trong các làng nghề chủ yếu là nghề nông, các gia đình tự quản lý, phân công lao động, thời gian cho phù hợp giữa việc sản xuất nông nghiệp lúc mùa vụ với nghề thủ công lúc nông nhàn. Về sản phẩm: Sản phẩm lành nghề truyền thống nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất. Nó là các vật dụng hàng ngày, có thể là những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ, nhân văn và xã hội. Các sản phẩm của làng nghề truyền thống đƣợc tạo ra với bộ óc sáng tạo và thông qua bàn tay khéo léo và sự tinh tế của ngƣời thợ.
Chất lƣợng sản phẩm thƣờng không đồng đều do việc sản xuất không thể tạo ra nhiều sản phẩm giống nhau, chỉ là do các ngƣời thợ sản xuất và tạo nên từng sản phẩm đơn lẻ, khó đáp ứng đƣợc sản xuất quy mô lớn. Kỹ thuật công nghệ: LNTT thƣờng sử dụng những công cụ thủ công, công nghệ mang tính cổ truyền do chính ngƣời lao động trong làng nghề tạo ra. Kỹ thuật đặc biệt nhất của làng nghề là những bí quyết, kinh nghiệm của ngƣời thợ đƣợc tích lũy qua nhiều thế hệ. Tổ chức sản xuất kinh doanh: Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề hiện nay chủ yếu là hộ gia đình.
Đây đƣợc xem là mô hình sản xuất nhỏ, thƣờng chỉ sử dụng lao động gia đình. Chính mô hình nhỏ này là một bất lợi cho việc tiếp nhận công nghệ, năng lực quản lý, năng lực tài chính, năng lực sản xuất còn kém vì vậy việc tiếp nhận các đơn đặt hang lớn thƣờng khó khăn. Tuy nhiên nó lại là mô hình tổ chức sản xuất phù hợp nhất Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 với cơ sở vật chất ở làng nghề truyền thống hiện nay do có nhiều ƣu điểm nhƣ tranh thủ thời gian lao động, linh hoạt trong sản xuất thích ứng với cuộc sống lao động sản xuất ở vùng nông thôn. Vai trò của làng nghề truyền thống a.
Tạo việc làm cho người lao động Khi sản xuất các sản phẩm của làng nghề sẽ tạo cho ngƣời lao động có việc làm trong thời điểm nông nhàn. Từ đó lao động đƣợc sử dụng triệt để hơn trong gia đình, nâng cao tỷ lệ thời gian làm việc đƣợc sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn. Đặc biệt một số làng nghề truyền thống còn sử dụng đƣợc lao động già cả, khuyết tật, trẻ em mà các khu vực kinh tế khác không nhận. Phát triển làng nghề truyền thống là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn và mang lại ý nghĩa to lớn về chính trị, xã hội.
Hạn chế sức ép của ngƣơi lao động dồn về các đô thị kiếm việc làm, qua đó góp phần giải quyết bớt một số tệ nạn xã hội do thiếu việc làm gây ra. Tăng thu nhập cho hộ gia đình Ngoài thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình tham gia sản xuất các sản phẩm làng nghề sẽ có thêm nguồn thu cho hộ, từ đó tăng mức sống cho ngƣời dân nông thôn. Thu nhập của ngƣời lao động hƣởng lƣơng ở các làng nghề cao hơn nhiều so với thu nhập từ sản xuất thuần nông. Khai thác vốn kỹ thuật của dân Quá trình sản xuất các sản phẩm của làng nghề đã tận dụng một cách triệt để các yếu tố về vốn, lao động, kỹ thuật của hộ.
Tạo việc làm cho tất cả mọi thành viên trong gia đình. Nhờ có phát triển ngành nghề truyền thống mà các quy trình sản xuất của ông cha từ xƣa để lại không bị mai một mà ngày càng đƣợc cải tiến phong phú hơn đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng.