CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ XHH BHYT VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ. Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm và BHYT. Bảo hiểm và phân loại bảo hiểm. Bảo hiểm: Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày, dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra, do nhiều nguyên nhân gây ra.
Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả do rủi ro gây ra. Một trong những biện pháp tối ưu và được sử dụng rộng rãi, đó là Bảo hiểm. Bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trước tổn thất rủi ro gây ra. Bảo hiểm góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cho cuộc sống của con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp.
Bảo hiểm góp phần ổn định chi tiêu ngân sách nhà nước. Với quỹ bảo hiểm do các thành viên tham gia đóng góp, cơ quan hoặc công ty bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia để họ ổn định đời sống và khôi phục sản xuất, kinh doanh. Bảo hiểm còn là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển KT- XH. Dưới hình thức phí bảo hiểm, ngành bảo hiểm đã huy động được một số lượng vốn khá lớn từ các đối tượng tham gia.
Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm. Về bản chất của bảo hiểm: Cơ chế hoạt động của bảo hiểm tạo ra một “sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít” trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất. Phân phối trong bảo hiểm là phân phối không đều, không bằng nhau; nghĩa là không phải ai tham gia cũng được phân phối và phân phối với số tiền như nhau. Phân 8 phối trong bảo hiểm là phân phối cho số ít người tham gia bảo hiểm không may gặp rủi ro bất ngờ gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống trên cơ sở mức thiệt hại thực tế và điều kiện bảo hiểm.
Điều đó cũng có nghĩa, phân phối trong bảo hiểm không mang tính bồi hoàn, tức là dù có tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm nhưng không tổn thất thì không được phân phối (trừ một số sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hưu trí). Đối tượng nghiên cứu của bảo hiểm là “các mối quan hệ KT- XH giữa người tham gia với các tổ chức bảo hiểm (người bảo hiểm) cũng như quan hệ giữa các tổ chức bảo hiểm với nhau”. Cụm từ “bảo hiểm” được sử dụng rất rộng rãi song cho đến nay vẫn còn có nhiều khái niệm khác nhau. “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít” (Dennis Kessler, Risque No 17, Jo- Mars 1994).
“Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được” (Nguyễn Phong- Bài giảng Bảo hiểm tại Đại học tài chính. TCT BHVN- Bảo Việt/HCM- 1988. “Bảo hiểm là một phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người có cùng khả năng gặp một loại rủi ro nào đó đóng góp tạo nên”. Các định nghĩa trên hoặc quá thiên về góc độ xã hội hoặc thiên về góc độ kinh tế cũng như kỹ thuật và ít nhiều có sự khiếm khuyết các yếu tố cần thiết của một định nghĩa đầy đủ, có thể phát biểu như sau: “Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro.
Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”. Phân loại bảo hiểm Tuỳ theo cách phân loại mà bảo hiểm có các loại khác nhau. Hiện nay, các nước trên thế giới thường triển khai các loại bảo hiểm như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), BHYT, bảo hiểm thương mại (BHTM)… 9 Dựa trên kỹ thuật, có thể phân loại bảo hiểm theo cách thức trả tiền, do đó các loại hình bảo hiểm được chia thành 2 loại: -Các loại bảo hiểm có tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc bồi thường. -Các loại bảo hiểm có tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc khoán Phân loại theo phương thức quản lý: theo cách này, các nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành hai hình thức: bắt buộc và tự nguyện.
Ở Việt Nam, theo sự phát triển của KT - XH, các loại bảo hiểm như BHXH, BHYT, BHTM cũng được triển khai (BHTN đã được nghiên cứu và hoàn thiện, và ban hành thành Luật BHTN áp dụng từ ngày 01/01/2009). Các loại hình bảo hiểm của Việt Nam tuy “sinh sau đẻ muộn” nhưng nhờ tiếp thu tinh hoa của bảo hiểm thế giới, vận dụng linh hoạt vào điều kiện Việt Nam nên cũng phát triển khá nhanh. BHXH, BHYT mở rộng đối tượng và phạm vi bảo hiểm, ngày càng hoàn thiện về cơ chế quản lý. BHTM tăng về số lượng, nghiệp vụ, mở rộng thị trường và ngày càng có vị thế trong nền kinh tế quốc dân 1.
BHYT và đặc điểm của BHYT. Khái niệm BHYT: BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và có các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT. Đặc điểm của BHYT *BHYT có đối tượng là sức khoẻ của người được bảo hiểm. *BHYT là một dịch vụ bảo hiểm phổ biến trên thế giới và được đông đảo nhân dân tham gia.
*BHYT được triển khai dưới hai hình thức là tự nguyện và bắt buộc. *Phương thức BH được phân ra căn cứ vào mức độ thanh toán chi phí KCB cho người có thẻ BHYT. *Quỹ BHYT là quỹ tài chính độc lập do những người tham gia đóng góp từ nhiều nguồn khác nhau. Quy mô của quỹ phụ thuộc chủ yếu vào số lượng thành viên tham gia và mức đóng góp của mỗi thành viên.
10 *Phí BHYT là số tiền mà người tham gia đóng góp để hình thành quỹ bảo hiểm. Phí phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như: xác suất mắc bệnh, chi phí y tế, độ tuổi của người tham gia… và được chia thành hai bộ phận. Ở Việt Nam, BHYT được phân theo hai loại: BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện. BHYT Việt Nam là cơ quan đầu ngành quản lý về hoạt động BHYT trên phạm vi cả nước.
BHYT Việt Nam thuộc Bộ Y tế; tỉnh, thành phố có BHYT tỉnh, thành phố; BHYT cấp huyện, xã. BHYT mang tính cộng đồng chia sẻ rủi ro, thực hiện theo nguyên tắc lấy sự đóng góp của số đông bù vào sự bất hạnh của số ít, trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất. Nguyên tắc cơ bản của BHYT được Luật BHYT của Việt Nam quy định.Sự cần thiết khách quan, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng tới XHH BHYT. Sự cần thiết khách quan XHH BHYT.
*Khái niệm xã hội hoá XHH là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội (tập thể) trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức, những kỹ năng và những phương thức cần thiết để hội nhập với xã hội. (Nguyễn Khắc Viện chủ biên - 1994 - Từ điển xã hội học. Xét theo góc độ từ nguyên học, XHH là làm cho trở thành của chung của xã hội (Viện ngôn ngữ học - 1997) - Từ điển Tiếng việt. Đà Nẵng- Trung tâm Từ điển học.
Khái niệm XHH BHYT XHH BHYT là huy động toàn xã hội tham gia BHYT, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức tạo nguồn tài chính thông qua phí tham gia bảo hiểm, góp phần quan trọng thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. *Sự cần thiết khách quan cần phải XHH BHYT. Trên lĩnh vực y tế, vào đầu những năm 1980 các cơ sở KCB lâm vào tình trạng thiếu kinh phí hoạt động không đủ điều kiện để củng cố và phát triển. Sau một thời gian thực hiện thí điểm BHYT thành công, chế độ BHYT chính thức ra đời từ 11 năm 1992 đã góp phần không nhỏ vào việc huy động vốn cho ngành y tế.
Quỹ BHYT là một nguồn tài chính ổn định, được tăng cường cùng với nguồn ngân sách Nhà nước, phân bổ cho các cơ sở y tế từ trung ương đến địa phương, giúp cho hệ thống KCB hoạt động nhịp nhàng và hàng năm ngành y tế đã không phải lo lắng tới hàng triệu người được quỹ BHYT bảo đảm khả năng thanh toán chi phí y tế. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tất yếu dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo trong các tầng lớp dân cư. Vì thể bảo đảm an toàn xã hội trở thành yêu cầu trong chính sách xã hội và thuộc trách nhiệm của các cấp lãnh đạo. Chế độ BHYT đảm bảo được tài chính cho người tham gia BHYT khi chi phí y tế phát sinh và nâng cao chất lượng sức khoẻ của cộng đồng vì mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, văn minh, giàu mạnh thông qua quá trình lập và sử dụng quỹ BHYT, thực hiện việc phân phối lại thu nhập và công bằng xã hội.
Chế độ BHYT xét về một mặt nào đó đang thực hiện chức năng chuyển dịch gánh nặng chi trả y tế cho thế hệ trẻ. Những người trẻ khoẻ đang có thu nhập tham gia BHYT để trợ giúp cho những người già yếu đã nghỉ hưu trong gia đình và xã hội hiện tại, để được thu nhận phúc lợi khi đã về già từ thế hệ con cháu trong tương lai. Vì thế, tham gia BHYT là thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi một cá nhân đối với cộng đồng xã hội và hưởng quyền lợi từ sự đóng góp của cả cộng đồng. Khi tiền BHYT trong thời gian nhàn rỗi được đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất vật chất sẽ mang lại sản phẩm phục vụ các chính sách phát triển KT - XH của Nhà nước.