Phần mở đầu - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới. - Chƣơng 2: Thực trạng về vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Tháp Mƣời, tỉnh Đồng Tháp. - Chƣơng 3: Những giải pháp để phát huy vai trò phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới nâng cao trên địa bàn huyện Tháp Mƣời, tỉnh Đồng Tháp. Phần kết luận 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Một số khái niệm cơ bản về nông thôn mới 1.1 Nông thôn Hiện nay, qua các tài liệu nghiên cứu có nhiều quan điểm khác nhau, vẫn chƣa có khái niệm thống nhất về nông thôn, nhƣ: - Nông thôn đƣợc coi là khu vực địa lý nơi đó cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp.
- Nông thôn là nơi có mật độ dân số thấp hơn so với thành thị. Vùng nông thôn là vùng có dân cƣ làm nông nghiệp là chủ yếu, nguồn sinh kế chính của cƣ dân trong vùng là sản xuất nông nghiệp. - Có quan điểm nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trƣờng, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng vùng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và tiếp cận thị trƣờng thấp hơn so với thành thị. Hay dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, nghĩa là cơ sở hạ tầng của vùng nông thôn không phát triển bằng đô thị (Lƣu Văn Hiền, 2015).
Do vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tƣơng đối và luôn biến động theo thời gian để phản ánh biến đổi về KT-XH. Trong phạm vi nội dung nghiên cứu, khái niệm nông thôn đƣợc định nghĩa theo Hƣớng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới quy định tại Thông tƣ số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Theo đó, nông thôn là phần lãnh thổ đƣợc quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.2 Nông thôn mới Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa X, đƣa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí đƣợc nâng cao, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; hệ thống 13 chính trị ở nông thôn dƣới sự lãnh đạo của Đảng đƣợc tăng cƣờng. Nhƣ vậy, nông thôn mới trƣớc hết nó phải xuất phát từ nông thôn, không phải là phƣờng, thị trấn; quận, thành phố và không giống nhƣ nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo các nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, đó là ấp, thôn, bản, làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng đƣợc đầu tƣ hiện đại; không gian vùng nông thôn phải mang nét đặc trƣng nông thôn với khuôn viên, cảnh quan của làng xã, của hộ gia đình nông thôn.
Thứ hai, sản xuất phải phát triển đồng bộ, bền vững theo hƣớng chuỗi liên kết, kinh tế hàng hóa; thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, không có hộ nghèo đói. Thứ ba, mức độ thụ hƣởng, đời sống về vật chất và tinh thần của ngƣời dân nông thôn ngày càng đƣợc nâng cao. Thứ tƣ, gìn giữ và phát triển hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ môi trƣờng sinh hoạt nông thôn, bảo tồn và khai thác đúng mức cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái. Thứ năm, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc, trong đó, bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc, các địa phƣơng.
Thứ sáu, xã hội nông thôn đảm bảo an ninh, quản lý dân chủ tốt. Hay nói cách khác: Nông thôn mới là nông thôn mà trong đó đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của ngƣời dân không ngừng đƣợc nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị (Phạm Văn Lâm, 2016). Nông dân đƣợc đào tạo, tiếp thu các tiến bộ khoa học, công nghệ hiện đại, có bản lĩnh và tƣ tƣởng chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Bên cạnh đó, nông thôn mới phải có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng đƣợc đầu tƣ đồng bộ, hiện đại, phát huy đƣợc hiệu quả phù hợp với quy hoạch đƣợc duyệt, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ, thƣơng mại và đô thị.
Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị đƣợc nâng cao đáp ứng đƣợc lòng dân, an ninh chính trị và trật tự xã hội đƣợc đảm bảo và giữ vững.3 Nông thôn mới nâng cao Khái niệm "nông thôn mới nâng cao" thƣờng đƣợc sử dụng để mô tả một quá trình phát triển và cải thiện cuộc sống trong các khu vực nông thôn. Nó thƣờng bao gồm các yếu tố sau: Phát triển nền kinh tế: Nông thôn mới nâng cao tập trung vào việc tăng cƣờng nền kinh tế trong các khu vực nông thôn. Điều này bao gồm sự đầu tƣ vào nông nghiệp, chế biến sản phẩm nông sản, phát triển nguồn lực nông nghiệp bền vững, và thúc đẩy doanh nghiệp nông nghiệp và hợp tác xã.
Cải thiện hạ tầng: Để thúc đẩy sự phát triển nông thôn, cần cải thiện hạ tầng giao thông, điện, nƣớc, viễn thông, và các dịch vụ cơ sở hạ tầng khác để kết nối các khu vực nông thôn với các trung tâm đô thị và thị trƣờng. Tiếp cận giáo dục và y tế: Đảm bảo rằng ngƣời dân nông thôn có tiếp cận tốt hơn đến giáo dục chất lƣợng và dịch vụ y tế là một phần quan trọng của nông thôn mới nâng cao. Điều này có thể bao gồm việc xây dựng và nâng cấp trƣờng học, bệnh viện, và đào tạo nguồn nhân lực y tế. Phát triển bền vững: Nông thôn mới nâng cao thƣờng mục tiêu đạt đƣợc phát triển bền vững, bảo vệ môi trƣờng và tài nguyên tự nhiên.
Các biện pháp bao gồm việc sử dụng công nghệ xanh, quản lý tài nguyên nƣớc và đất đai hiệu quả hơn, và đảm bảo nông dân tuân thủ các tiêu chuẩn bảo vệ môi trƣờng. Xây dựng cộng đồng: Nông thôn mới nâng cao cũng tập trung vào việc xây dựng cộng đồng mạnh mẽ và đoàn kết. Điều này bao gồm việc thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong việc ra quyết định và phát triển các dự án cơ sở. Tạo ra việc làm: Tạo ra việc làm trong các ngành khác nhau nhƣ nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, dịch vụ, và du lịch là mục tiêu quan trọng để giúp ngƣời dân nông thôn nâng cao chất lƣợng cuộc sống và giảm động viên di cƣ đô thị.
Nông thôn mới nâng cao là một mục tiêu quan trọng trong nhiều quốc gia, nhằm đảm bảo rằng cả khu vực nông thôn và đô thị đều phát triển và đóng góp vào sự phát triển toàn diện của đất nƣớc.2 Xây dựng nông thôn mới Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chƣơng trình tổng thể, dài hạn và phạm vi đƣợc áp dụng trên địa bàn nông thôn của toàn quốc. Bởi vậy, mục tiêu mà các địa phƣơng đang phấn đấu trong việc thực hiện chƣơng trình 15 này là đƣợc công nhận đạt chuẩn NTM. Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009, hiện nay đã đƣợc thay thế bằng Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới nêu rõ: Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới là căn cứ để xây dựng nội dung Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình NTM trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kiểm tra, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt NTM. Bộ tiêu chí sẽ đƣợc điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nƣớc và từng thời kỳ.
Tùy điều kiện mà chỉ tiêu áp dụng cho từng vùng đƣợc quy định cao hoặc thấp hơn quy định chung. Trong phạm vi nội dung nghiên cứu, tác giả nhận định, xây dựng nông thôn mới nâng cao là việc các địa phƣơng thực hiện tổng hợp các nhiệm vụ, giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới nâng cao, cơ bản đạt đƣợc các mục tiêu chung mà Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và nông thôn mới nâng cao đã đề ra.3 Một số quan điểm về vai trò của phụ nữ 1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của phụ nữ Trong lịch sử tƣ tƣởng cũng có nhiều quan điểm tiến bộ đề cao vai trò của ngƣời phụ nữ, khởi nguồn từ thời Phục Hƣng, cận hiện đại, quan niệm về phụ nữ đã mang tính mở, hiện đại, khoa học và nhân văn hơn; địa vị ngƣời phụ nữ đƣợc đƣa lên những vị trí cao trong xã hội. Đặc biệt là những quan điểm nhân văn, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã thể hiện sự thống nhất giữa tính khoa học, cách mạng và nhân văn cao cả. Từ hoạt động thực tiễn, trong các tác phẩm của mình, C.Mác đã phác họa rõ nét tình cảnh, số phận, đời sống của phụ nữ.Mác chỉ rõ: “Trong lịch sử nhân loại, không có một phong trào to lớn nào của những người bị áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia, phụ nữ lao động là những người bị áp bức nhất trong tất cả những người bị áp bức [1, trang 60 C.Mác – Ph Awngghen với vấn đề giải phóng phụ nữ (1967)].
Nhƣ vậy, không những C.Mác đề cao vai trò của ngƣời phụ nữ mà còn kêu lên điều kiện không thể thiếu của mọi cuộc cách mạng. Từ thực tiễn đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tƣ sản, C.Mác khẳng định: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc chắn không làm nổi [9; trang 16 288 V.Leenin với vấn đề giải phóng phụ nữ (1970).NXB Phụ nữ].