CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1/ Tông quan về van đề nghiên cứu Vật Ly là môn khoa học thực nghiệm, nên việc khai thác các thí nghiệm đề tạo ra các tình huống có van dé cần được phát huy. Trong dạy học vật lí ở trường pho thông, thí nghiệm là phương tiện của việc thu nhận tri thức, là phương tiện kiểm tra tính đúng đắn của tri thức đã thu được, là phương tiện của việc vận dụng tri thức đã thu được vào thực tiễn, góp phan phát triển nhân cách toàn điện của học sinh, là một bộ phận của các phương pháp nhận thức vật lí. Đã từ lâu, trên thé giới việc khai thác và sử dụng thí nghiệm trong dạy học được phát triển theo nhiều xu hướng khác nhau. Có thé kế đến ba xu hướng chính: © Một la ngày càng phát triển hiện đại các thiết bị thí nghiệm.
© Hai là khai thác và sử dung các thiết bị, dụng cụ thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền. e Ba là phối hợp, sử dụng các phương tiện dạy học khác nhau. Do những ưu thế của thí nghiệm đơn giản nên ngảy nay, việc giáo viên và học sinh tự thiết kế chế tạo các phương tiện day học, thiết bị thí nghiệm đơn giản ngày càng được khuyến khich và mở rộng. Nếu tự chế tạo được các dụng cụ thí nghiệm để nghiên cứu cá hiện tượng, qui luật Vật Lý thì học sinh không những hiểu rõ kiến thức hơn mà còn biết vận dụng kiến thức trong thực tế và hứng thú hơn trong học tập.
Ở nước ta cũng có các công trình về việc chế tạo dụng cụ thí nghiệm đơn gián sử đụng trong day học như: © Tác giả Nguyễn Văn Biên có công trình: “Thiét kế, chế tạo và sử dụng đồ chơi trong day học Vật Lý ở trường phố thông”. © Tác già Nguyễn Ngọc Hưng với công trình: “Sử dụng chai nhựa, vỏ lon chế tạo thiết bị day học vật li”. œ© Hai tác giả Nguyễn Mạnh Thao và Nguyễn Minh Thảo với công trình: “Thiết kể, chế tạo và hoàn thiện bộ thí nghiệm Bôilơ - Mariốt, sử dụng trong day học vật li lớp 10 ở trường THPT”. Gần đây có luận văn thạc si “Xây đựng vả sử dụng một số thí nghiệm hỗ trợ quá trình day học các chương “Chat khí" va “Co sở nhiệt động lực học”, Vật Lý 10 ban cơ ban" của tác giả Phan Minh Tiến cũng dé cập đến van đẻ thiết kế, chế tạo va sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học.
Công trình nảy cũng là công trình đầu tiên dé cập đến việc nghiên cửu chế tạo mô hinh động cơ nhiệt để hé trợ quá trình dạy học chương “Co sở của nhiệt động lực hoc”, một chương có ứng dụng thực tế rất hay đó là ding đẻ giải thích nguyên lý hoạt động của các loại động cơ nhiệt. Tuy nhiên, trong công trình này, tác giả không để cập đến van dé hướng dẫn học sinh tự thiết kế, chế tạo mô hình động cơ dé phát huy kha năng sáng tạo của học sinh. Trong để tải nảy, tác giả sẽ nghiên cứu cách chế tạo mô hình động cơ Stirling từ vỏ lon và các vật liệu đơn giản, từ đó viết tài liệu hướng dẫn học sinh chế tạo mô hình động co Stirling, một ứng dụng thực tế của chương “Co sở nhiệt động lực học”.2/ Phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập: 1.1/ Khái niệm tính tích cực học tập: Tỉnh tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội. Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết qua của quá trình phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục.
Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếud của giáo dục, nhằm dao tạo những con người nang động, thích ứng và góp phan phát triển cộng đồng [5]. Thái Duy Tuyên thi tính tích cực nhận thức biểu hiện sự nỗ lực của chủ thé khi tương tác với đối tượng trong qua trình học tập, nghiên cứu thé hiện sự né lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức nắng tâm lý (như hứng thú, chú ý, ý chi.) nhằm đạt được mục đích đặt ra với mức độ cao. Theo Nguyễn Hữu Châu, tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thé, nghĩa là của người hành động. Vậy tính tích cực nhận thức 14 trạng thái hoạt động của học sinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng tri tuệ va nghị lực cao trong quả trình chiếm lĩnh trí thức.
Như vậy, ta cỏ thé coi tính tích cực trong học tập là sự tìm tòi nắm vững tri thức, vận dụng nó một cách thành thạo vào thực tién, Tích cực hoá hoạt động nhận thức nhằm chuyên người học từ vị trí thụ động sang chủ động, giúp học sinh tim thay niém say mê, hứng thú trong học tập. Kết qua học tập của học sinh phụ thuộc rất nhiều vảo tính tích cực. Niềm vui học tập chỉ có thé đạt kết quả cao khi giáo viên phát huy hết khả nang tích cực học tập ở học sinh. Các mức độ của tính tích cực tự lực trong học tập: © Tu lực một phan: học sinh tự lực hoàn thành nhiệm vụ được giao nhưng dưới sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh hầu như chỉ hoàn thiện các yêu cầu một cách tuần tự chứ chưa tự lực xây dựng kế hoạch giải quyết van đề.
© Ty lực toàn phân: học sinh tự lực hoàn thành nhiệm vụ từ khâu xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch giải quyết van dé và trực tiếp giải quyết vẫn đề dưới sự trợ giúp của giáo viên hoặc hợp tác với học sinh khác.2/ Sự cin thiết phát huy tính tích cực học tập của học sinh: Để có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu ngày cảng cao của xã hội, nhà trường cần có vai trò đào tạo ra những con người biết tự học, tự trau đổi và phát triển bản thân dé không bị tụt hậu. Do đó, đổi mới day học là vấn đẻ luôn được quan tâm hiện nay. Quá trình day học trong thé ki mới phải đào tao học sinh có khả năng tự lực chiếm lĩnh tri thức. Học sinh có khả năng tự lực chiếm lĩnh tri thức khi và chỉ khi các em có được tính tích cực trong quá trình học tập của bản thân.
Phát huy tính tích cực học tập cho học sinh là yêu cầu đối với quá trình dạy học nói chung, và cũng chính là yêu cau cân thiệt quan trọng đổi với quá trình day học bộ môn Vật Lý nói riêng. Vật Lý là một môn khoa học thực nghiệm với kiến thức gần gũi và liên quan trực tiếp đến cuộc sống của con người. Các tri thức Vật Lý là nền tảng cho sự phát triển của khoa học kĩ thuật. Vì vậy, phát huy tính tích cực học tập của học sinh đối với Vật Lý học la một điều quan trong và can thiết.
e Tính tích cực học tập nhằm lam chuyển biến vị trí của người học từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm trí thức. © Tinh tích cực là một phẩm chất tâm lý vô cùng quan trọng quyết định sự thanh công của mọi cá nhân trong mọi hoạt động và quyết định sự hoản thiện không ngừng của nhân cách trong quá trình hoạt động nhận thức. e Tinh tích cực là điều kiện can cho sự phát triển tư duy độc lập va tư duy sáng tạo, mặc dù mức độ độc lập của tư duy vả sự sáng tạo của mỗi học sinh còn tuỳ thuộc vào nhiều đặc điểm mang tính cá nhân. Đối với người giáo viên, việc lựa chọn một hình thức hoặc phương thức tổ chức hoạt động học tập cho học sinh là rất cần thiết và quan trọng.
Việc lựa chọn cần phải chú ý đến nội dung trọng tâm của kiến thức, nhu cầu thực tiễn của đối tượng học. Đối với học sinh, mục đích hướng đến của việc học là mục đích thực tiễn. Học sinh cần hiểu kiến thức đó được img dụng nhhư thé nào trong thực tiễn đời sống, chúng hiện diện ở đâu và có ý nghĩa như thế nào. Đồng thời thông qua việc học các kiến thức đó, học sinh cần được bồi dưỡng để phát triển bản thân, phát triển tư duy và những kĩ năng cần thiết quan trọng trong đời sống.3/ Những biếu hiện của tính tích cực học tập: + Sự chuyên can: Tính tích cực học tập trước hết thể hiện qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết vấn để nhân thức.
Vì vậy giáo viên cần lưu ý đến tinh chuyên can trong hoạt động học tập của học sinh thể hiện qua: - Mức độ ý thức tự tim hiểu thêm tải liệu dé làm rd thêm vấn dé đang tìm hiểu. - Tính thường xuyên trong việc tìm hiểu trước bài học kế tiếp ở nhà và đưa ra nhiều ý kiến phát biểu trong quá trình học. - Mức độ thực hiện các nhiệm vụ giáo viên yêu cau trong suốt quá trình học tập. s* Sự hang hái nhiệt tình: Tính tích cực còn thé hiện trong việc hăng hai tham gia vào mọi hoạt động học tập: tích cực tìm kiếm, xử lý thông tin và vận dung giải quyết các nhiệm vụ học tap, thực tién cuộc sống: tìm tỏi, khám phá các van dé bằng phương pháp mới.
Sự hãng hải còn được thể hiện ở óc quan sát, tính phê phan trong tư duy, trí 6c tò mò khoa học, sự sáng tạo trong học tập.Do đó, trong quá trình dạy học, giáo viên có thể đánh giá sự hãng hái, nhiệt tình của học sinh thông qua các biểu hiện: - Mức độ tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bô sung các câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình. - Luôn có nhu cau tìm hiểu, nêu thắc mắc, muốn được giải thích cặn kẻ những vấn dé chưa rö. - Mong muốn được đóng góp, chia sẽ những thông tin mới, đôi khi vượt ngoài phạm vi của bài học. - Luôn nhiệt tinh tham gia vào các hoạt động thí nghiệm hoặc hoạt động ngoại khoá đo giáo viên hoặc nhà trường tổ chức liên quan.
s» Sự tự giác: Sự tự giác là dấu hiệu cơ bản của tính tích cực. Đó là sự quan tâm đến môn học, tự giác học tập không cần nhắc nhở, không bị bắt buộc bởi các tác động bên ngoài. Sự tự giác được thể hiện qua: - Sự chủ động vận dụng lĩnh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức các vấn dé mới. - Mức độ tự khám phá tìm hiểu những hiện tượng trong đời sống để tích luỹ kiến thức cho bản thân.