CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tính tích cực học tập, nhận thức 1. Hoạt động nhận thức Thực tiễn và cuộc sống luôn đặt ra những vấn đề cần con người giải quyết. Để tồn tại và phát triển, con người cần không ngừng tìm cách giải quyết các vấn đề đó, không ngừng cải tạo các mối quan hệ giữa mình và thế giới bên ngoài, tức là phải hoạt động.
Bằng hoạt động và trong hoạt động, mỗi cá nhân sẽ tự hoàn thiện mình về mọi mặt. “Trong quá trình hoạt động, con người phải luôn nhận thức. Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm và hành động). Nhận thức có quan hệ chặt chẽ với các mặt kia, nhưng không ngang bằng về nguyên tắc và cũng có quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lý khác của con người” [4].
Theo quan điểm Triết học Mac-Lenin, “nhận thức” được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn. Nhận thức có hai mức độ là: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Muốn nhận thức và cải tạo thế giới khách quan có hiệu quả, con người cần đi sâu nghiên cứu, nắm chắc những thuộc tính bên trong, những mối liên hệ bản chất của sự vật, hiện tượng. Muốn vậy cần phải phát triển nhận thức lý tính.
Đối với học sinh, hoạt động chủ yếu của các em là học tập. Hoạt động nhận thức của người học chỉ nảy sinh khi họ đứng trước các nhiệm vụ nhận thức, khi họ cần phải vượt qua những mâu thuẫn, chướng ngại nhận thức. Việc phát hiện các mâu thuẫn đó dựa trên các tri thức đã có và logic khoa học (logic hình thức, logic biện chứng, logic toán). 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tính tích cực trong hoạt động học tập và nhận thức của học sinh Theo nghĩa từ điển: Tích cực là một trạng thái tinh thần có tác dụng khẳng định và thúc đẩy sự phát triển. Các nhà tâm lý học cũng đã phân tích, làm rõ hơn nội hàm của khái niệm tích cực: “Tính tích cực học tập là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể, thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết vấn đề học tập, nhận thức (Nguyễn Ngọc Bảo); tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể (I.Khaclamop); tính tích cực nhận thức được thể hiện bằng nhiều dấu hiệu, như sự căng thẳng chú ý, sự tưởng tượng mạnh mẽ, sự phân tích tổng hợp sâu sắc (Rodak)”. Tính tích cực của con người được biểu hiện trong hoạt động. Đối với học sinh thì tính tích cực được thể hiện thông qua các hoạt động cụ thể như: học tập, lao động, thể dục, vui chơi,… Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này [3].
Như vậy, tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua việc huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập. Tính tích cực nhận thức vừa là mục đích, phương tiện, kết quả của hoạt động vừa là phẩm chất hoạt động của cá nhân. Tùy theo sự huy động đó mà có thể diễn ra tính tích cực tái hiện, tính tích cực tìm tòi, tính tích cực sáng tạo. Tính tích cực nhận thức – học tập vận dụng đối với HS đòi hỏi phải có những nhân tố, tính lựa chọn thái độ với đối tượng nhận thức; đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau đó lựa chọn đối tượng, cải tạo đối tượng trong hoạt động sau này nhằm giải quyết vấn đề.
Hoạt động mà thiếu những nhân tố trên thì chỉ thể hiện trạng thái, hành động nhất định của con người, mà không thể nói là tính tích cực nhận thức. Nếu HS chỉ làm theo yêu cầu của GV: đọc sách, nhìn lên bảng và ghi chép tất cả những cái gì nhìn thấy trên bảng vào vở thì chưa phải là tích cực. Tính tích cực phải thể hiện qua thái 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ đối với những điều HS đã nghe thấy, nhìn thấy, suy ngẫm về những mối liên hệ giữa những điều đó và tìm ra những dấu hiệu mới. Phân loại tính tích cực nhận thức của học sinh Tùy theo sự huy động chủ yếu những chức năng của tâm lý nào và mức độ huy động những chức năng tâm lý đó người ta phân chia tính tích cực.I thì có 3 loại tính tích cực của học sinh mà chúng ta cần quan tâm là: a) Tính tích cực tái hiện và bắt chước: Xuất hiện do những yêu cầu từ bên ngoài, nếu không có những kích thích đó thì không diễn ra hoạt động nhận thức.
Ở đây học sinh đã có sự tái hiện lại được các kiến thức mà giáo viên đã cung cấp hay thực hiện được các thao tác, kỹ năng mà giáo viên đã nêu ra, tuy nhiên với loại này các thao tác chỉ dừng lại ở việc bắt chước những thao tác của giáo viên, chưa có sự nỗ lực tư duy. Loại này chủ yếu ở HS có năng lực nhận thức trung bình và dưới trung bình. Chẳng hạn khi giáo viên đã hướng dẫn học sinh làm bài tập trên lớp, thì học sinh có thể coi bài tập đó là bài mẫu để sau đó giải các bài tập sau dựa trên cơ sở bài tập mẫu đó. b) Tính tích cực tìm tòi: Được đặc trưng bằng sự nhận xét, tìm tòi với óc sáng kiến, lòng mong muốn, khát khao học tập.
Tính tích cực đó không bị hạn chế hiểu biết trong khuôn khổ những yêu cầu của giáo viên trong giờ học. Đi liền với quá trình học sinh lĩnh hội kiến thức như các khái niệm, các định lý hay giải quyết các tình huống nhận thức, thể hiện ở sự tự giác tìm tòi các phương thức lĩnh hội có hiệu quả (có sự tham gia của động cơ, nhu cầu hứng thú học tập, ý chí vươn lên). Nó xuất hiện không chỉ do yêu cầu của giáo viên. Tính tích cực tìm tòi còn là thuộc tính bền vững của hoạt động, nó 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không mất đi mà ngày càng bảo đảm cho việc học tập đạt kết quả ngày càng tốt hơn.
Loại này phát triển ở HS có năng lực nhận thức trung bình và trên trung bình (HS khá). Chẳng hạn như khi học sinh được giáo viên hướng dẫn giải bài tập thì học sinh có thể từ bài tập đó giải được các bài tập khác, hay thực hiện được các yêu cầu cao hơn các bài tập mà giáo viên đưa ra. Tính tích cực tìm tòi thì bản thân chữ “tìm tòi” cũng cho ta thấy khả năng, hứng thú, sự say mê đi tìm cho mình những kiến thức mới, để đạt được các yêu cầu cao hơn trong học tập. c) Tính tích cực sáng tạo: Là mức độ cao nhất của tính tích cực.
Nó được đặc trưng bằng sự khẳng định con đường riêng của mình, không giống với con đường mà mọi người đã thừa nhận, đã trở thành chuẩn hóa để đạt tới yêu cầu. Tính tích cực sáng tạo là sự tự thể hiện, sự tự khẳng định của chủ thể bản thân học sinh khi nhận thức, khi tìm tòi kiến thức, hay tìm tòi con đường nhận thức của riêng mình, nó trở thành phẩm chất của riêng từng học sinh. Tính tích cực sáng tạo thể hiện ở chỗ tự mình học sinh cũng có thể tìm được các kiến thức mới, dễ dàng tìm được kết quả hay thực hiện tốt các yêu cầu, hành động mà giáo viên đưa ra mà không cần có sự trợ giúp của giáo viên. Tính tích cực sáng tạo là sự thể hiện cao tính độc lập của học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức mới.
Loại này thường thấy ở HS có năng lực nhận thức trên trung bình (khá, giỏi, có năng khiếu). Tuy nhiên, sự phân loại trên vẫn còn mang tính chất khái quát. Muốn đánh giá đúng tính tích cực nhận thức của HS còn phải tính đến cả thời gian duy trì tính tích cực của HS, số lượng bài tập mà HS đó có thể tự hoàn thành… Ví dụ: Xét bài toán sau: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cho tam giác ABC. Dựng ra ngoài tam giác ABC các hình vuông ABDE và ACFG.1 a) Chứng minh rằng BG và CE bằng nhau, vuông góc với nhau.
b) Gọi M, N, P lần lượt là trung điểm của BC, CG, BE. Chứng minh rằng tam giác MNP vuông cân tại M. c) Gọi AH là đường cao tam giác ABC. Trên tia đối của tia AH lấy điểm Q sao cho AQ bằng nửa BC.
Chứng minh rằng MNQP là hình vuông. Mỗi câu hỏi a, b, c ở trên đòi hỏi HS tư duy tích cực theo 3 mức độ: Từ tái hiện – bắt chước đến tìm tòi và cao nhất là sáng tạo. Biểu hiện của tính tích cực nhận thức [3] a) Về hoạt động nhận thức: Thể hiện ở thao tác tư duy, ngôn ngữ, sự quan sát, ghi nhớ, tư duy hình thành khái niệm, phương thức hành động, hình thành các kỹ năng kỹ xảo thông qua câu hỏi nhận thức của học sinh. b) Sự chú ý nghe giảng: Thể hiện ở chỗ tập trung, chú ý nghe giảng, thực hiện đầy đủ các yêu cầu của giáo viên, hòa nhập với không khí của cả lớp, giải đáp đầy đủ các yêu cầu của giáo viên đưa ra nhanh chóng, chính xác và nhận biết đúng sai sau khi bạn đưa ra ý kiến.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com c) Về tinh thần, tình cảm học tập: Thể hiện qua sự say mê, sốt sắng của học sinh khi thực hiện yêu cầu mà giáo viên đặt ra: Học sinh thích được trả lời câu hỏi, học sinh làm bài tập một cách tự nguyện. d) Về ý chí, quyết tâm học tập: Thể hiện ở sự nỗ lực, ý chí giải quyết nhiệm vụ học tập, kiên trì tìm tòi đến cùng và cao hơn nữa là vạch ra được mục tiêu, kế hoạch học tập. e) Về kết quả nhận thức: Thể hiện ở kết quả lĩnh hội kiến thức nhanh chóng, chính xác và tái hiện được khi vận dụng trong các tình huống cụ thể. Sự cần thiết của việc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh Nói đến tâm lí học phát triển, người ta nghĩ ngay đến các công trình nghiên cứu nổi tiếng của J.
Theo ông: “Trẻ em được phú cho tính hoạt động thực sự và giáo dục không thể thành công nếu không sử dụng và không thực sự kéo dài tính hoạt động đó”. Ở đây, ông đã nhấn mạnh đến vai trò hoạt động của người học.