phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm ba chƣơng: CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG. Chƣơng này tổng hợp những cơ sở lý luận chung của đề tài về các khái niệm văn hóa và du lịch, du lịch văn hóa, một số vấn đề về phát huy các giá trị văn hóa trong du lịch, những bài học về phát triển du lịch văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam. CHƢƠNG 2: VĂN HÓA CAO ĐÀI VÀ VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA VĂN HOÁ CAO ĐÀI TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TÕA THÁNH TÂY NINH. Chƣơng này bao gồm việc khái quát về Tây Ninh, du lịch Tây Ninh; mô tả tổng quan về đạo Cao Đài; những giá trị văn hóa của đạo Cao Đài; đồng thời 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chỉ ra thực trạng khai thác, phát huy giá trị của văn hoá Cao Đài ở toà thánh Tây Ninh.
CHƢƠNG 3: ĐỊNH HƢỚNG, GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CAO ĐÀI TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TÕA THÁNH TÂY NINH. Chƣơng này đƣa ra những đánh giá về thuận lợi và khó khăn của du lịch Tây Ninh; những định hƣớng cơ bản và một số giải pháp phát huy các giá trị văn hóa Cao Đài trong hoạt động du lịch tại Tây Ninh. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA, DU LỊCH, DU LỊCH VĂN HÓA, DU LỊCH TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG 1. Văn hóa và thuộc tính giá trị của văn hóa 1.
Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều quan niệm, rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời. Tính đến năm 1972, trên thế giới đã có đến 200 định nghĩa về “Văn hóa”. Và cho đến nay, chỉ riêng ở phƣơng Tây đã ra đời đến trên 400 định nghĩa về “Văn hóa” do các nhà nghiên cứu văn hóa chuyên nghiệp và có uy tín cao đƣa ra. Tình hình đó cũng vẫn còn đang tiếp tục trong thời đại hiện nay.
Điều này cho thấy văn hóa là một khái niệm rất phức tạp.16] Ở phƣơng Đông, hai từ “văn” và “hóa” đã xuất hiện khá sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bí có nói: “Quan hồ thiên văn dĩ sát thời biến. Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ.” (Nghĩa là: Quan sát cái dáng vẻ của trời để mà suy xét về sự biến đổi của thời tiết. Và quan sát cái dáng vẻ của con ngƣời để mà thực hiện sự giáo hóa cho những ngƣời khác trong xã hội.) Ý nói bậc thánh nhân quan sát dáng vẻ của con ngƣời (cách thức ứng xử), tức là nói Thi, Thƣ, Lễ, Nhạc, để theo đó mà dạy, mà giáo hóa đối với thiên hạ.
Ngƣời sử dụng từ Văn hóa sớm nhất có lẽ là Lƣu Hƣớng ở thời Tây Hán (77-6 Trƣớc Công nguyên) với ý nghĩa nhƣ một phƣơng thức giáo hóa con ngƣời – văn trị giáo hóa, đối lập với việc dùng vũ lực. Dùng văn hóa mà không thay đổi đƣợc thì sau đó mới dùng đến chinh phạt.” Ở phƣơng Tây, ngƣời Pháp và ngƣời Anh dùng từ “culture”, ngƣời Đức sử dụng từ “kultur”, còn ngƣời Nga là từ “kultura”. Tất cả các từ này đều bắt nguồn từ chữ La-tinh là “cultus” vốn có nghĩa là sự trồng trọt. Danh từ “cultus” trong tiếng La-tinh đƣợc hiểu theo hai khía cạnh: “cultus agri” có nghĩa là trồng trọt ngoài đồng, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên (trồng cây); và khía cạnh còn lại 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “cultus animi” có nghĩa là trồng trọt tinh thần, giáo dục đào tạo con ngƣời để họ không còn là con vật tự nhiên và có đƣợc những phẩm chất tốt đẹp (trồng ngƣời).
Nhƣ vậy, danh từ “Culture” đã xuất hiện khá sớm trong ngôn ngữ Châu Âu. Đến thế kỷ XIX thì thuật ngữ “Văn hóa” đƣợc các nhà nhân loại học phƣơng Tây sử dụng nhƣ một danh từ chính. Taylor đã đƣa ra một định nghĩa về văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc ngƣời học, là một tổng thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và cả những khả năng và thói quen khác mà con ngƣời đạt đƣợc với tƣ cách là một thành viên của xã hội”. Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một, nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con ngƣời, từ tri thức, tín ngƣỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật…, E.
Taylor đã xác định khá đúng đắn về bản chất, đặc trƣng và nguồn gốc của khái niệm “Văn hóa”. Có ngƣời ví định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thƣ” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con ngƣời. Ở thế kỷ XX, F. Boas định nghĩa “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm ngƣời vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trƣờng tự nhiên của họ, với những nhóm ngƣời khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau”.
Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trƣờng là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con ngƣời. Ý nghĩa văn hóa đƣợc quy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu nhƣ “trí lực”, vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tƣơng đối luận của văn hóa”. Văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt.
Còn theo một số học giả Mĩ “Văn hóa là tấm gƣơng nhiều mặt phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”. Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nƣớc ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thƣờng vận dụng định nghĩa văn hóa do 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com UNESCO đƣa ra vào năm 1994. Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngƣỡng: Văn hóa đem lại cho con ngƣời khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vƣợt trội lên bản thân”. Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trƣng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”… Ở Việt Nam, văn hóa cũng đƣợc định nghĩa rất khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con ngƣời sáng tạo và phát minh ra. Văn hóa theo định nghĩa của Hồ Chí Minh cũng giống nhƣ E.
Taylor là một “bách khoa toàn thƣ” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con ngƣời. Trong tác phẩm “Văn hóa và đổi mới”, Cố thủ tƣớng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con ngƣời trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con ngƣời làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hệ thống giá trị: tƣ tƣởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”. Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con ngƣời sáng tạo nên từ tƣ tƣởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi ngƣời, mỗi dân tộc. Trên cơ sở phân tích các cách tiếp cận văn hóa phổ biến hiện nay, PGS.
Trần Ngọc Thêm đã nêu ra một định nghĩa về văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội”. Định nghĩa này nêu bật bốn đặc trƣng quan trọng của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh. Phan Ngọc: “Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngƣợc lại bất kỳ vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là một quan hệ.
Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tƣợng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc ngƣời, một cá nhân so với một tộc ngƣời khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc ngƣời tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc ngƣời khác”.
Định nghĩa này mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa khác, mà theo ông đều mang tính tinh thần luận.