CHƯƠNG 1. GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY 1. Một số vấn đề lý luận về đạo đức và phát huy giá trị đạo đức truyền thống 1. Các khái niệm “đạo đức”, “giá trị” và “giá trị đạo đức” * Khái niệm đạo đức Đạo đức học cổ đại xuất hiện như là một phương thức lĩnh hội thế giới về mặt tinh thần, khởi nguồn từ Xôcrat vốn là nhân vật độc đáo rất nổi tiếng, như một chiến binh, nhà thông thái, nhà thuyết khách vĩ đại, nhà hùng biện bậc thầy.
Với phương châm chỉ đạo tư tưởng đạo đức là, hãy tự nhận thức bản thân mình, Ông đã chứng minh rằng đạo đức là tri thức. Người ta có được đạo đức là nhờ sự hiểu và do vậy, chỉ sau khi hiểu biết, nghĩa là đã có khái niệm chính xác về đạo đức mới trở thành người đạo đức được. Platôn là nhân vật lớn của triết học Hy Lạp cổ đại - người đã sáng lập đường hướng duy tâm triết học. Theo ông nguồn gốc của đạo đức không phải ở trong bản chất con người mà là trong linh hồn vĩnh cửu độc lập với con người cụ thể.
Ông cho rằng, thế giới hiện thực chỉ là nguồn gốc của những sai lầm và tội ác. Tri thức đúng đắn sẽ đạt được thông qua sự hồi tưởng của linh hồn, mà theo ông, gồm có ba phần: lý trí, ý chí và cảm xúc, trong đó phần thứ nhất là cơ sở của sự thận trọng. Sự kết hợp hài hòa ba phần này giúp đạt tới đức hạnh và chính nghĩa. Platôn cho rằng, Thượng đế chính là quan tòa tối cao soi xét mọi hành vi của con người, do vậy cần giáo dục công dân tôn kính thượng đế để trở thành người đạo đức.
Arittôt, theo nhận định của C.Mác, là nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại. Ông đã phê phán quan điểm của Platôn, xuất phát từ quan niệm về mối liên hệ mật thiết giữa đạo đức và chính trị. Ông đã xác định cái gì phục vụ cho nhà nước và củng cố trật tự đang tồn tại thì cái đó có phẩm hạnh, khái niệm chính nghĩa trong mối quan hệ với người khác, quan tâm đến người khác, là sự thể hiện hành động 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính nghĩa của con người tự biểu hiện trước hết như một thực thể chính trị và xã hội. Arittôt là người đã thấy được nguồn gốc hành vi đạo đức của con người trong xã hội.
Theo ông, hạnh phúc là mục đích cao nhất của con người và giáo dục phẩm hạnh là phương tiện để đạt đến mục đích ấy. Ông cho rằng, nếu chính trị đi tìm hạnh phúc cho xã hội thì đạo đức lại đi tìm hạnh phúc cho cá nhân, chính điều đó làm chính trị và đạo đức có mối liên hệ, tác động lẫn nhau. Epiquya lại cho rằng, những yêu cầu quyền lợi và khát vọng của con người phản ánh bản chất của con người. Theo ông, nhiệm vụ của đạo đức học là dạy cho con người biết lựa chọn cách sống một cách khôn ngoan, biết thỏa mãn những mong ước tất yếu và biết tránh xa những mong ước vô nghĩa.
Ông kết luận sự ôn hòa là nền tảng của cuộc sống hạnh phúc.Cantơ cho rằng, lý tính là nguồn gốc sinh ra các nguyên lý, các chuẩn mực đạo đức. Vì vậy, ý chí đạo đức hay là thiện ý, theo cách gọi của Cantơ là năng lực hành động phù hợp với quy luật đạo đức phổ biến, nghĩa là phù hợp với mệnh lệnh tuyệt đối. Mệnh lệnh tuyệt đối đòi hỏi hoạt động của con người phải hướng tới cộng đồng, sống phù hợp với tự nhiên, tôn trọng mình và người khác. Điều đó cũng có nghĩa rằng, mệnh lệnh tuyệt đối đòi hỏi con người hành động theo một pháp chế phổ biến.
Nhưng, trong xã hội có giai cấp đối kháng thì các giai cấp khác nhau có quan niệm khác nhau về lý tưởng của một pháp chế phổ biến. Vì vậy, trên thực tế, mệnh lệnh tuyệt đối không thể trở thành một pháp chế phổ biến được.Hêghen, cội nguồn và cơ sở của tất cả những hiện tượng tự nhiên và xã hội là một bản nguyên tinh thần, lý tính và được gọi là ý niệm tuyệt đối. Ý niệm này tự vận động, phát triển và thể hiện ra thành toàn bộ những hiện tượng tự nhiên và xã hội. Tuân thủ lôgic đó, Hêghen cho rằng, đạo đức bắt nguồn từ ý niệm pháp lý, còn ý niệm pháp lý là một hình thái biểu hiện của ý niệm tuyệt đối.
Cũng như ý niệm tuyệt đối, ý niệm pháp lý vận động, phát triển hay là tự nhận thức bản thân mình theo xu hướng đi từ trừu tượng đến cụ thể. Bởi thế, điểm xuất phát hay là bậc thứ nhất của ý niệm pháp lý là pháp luật chủ quan được Hêghen gọi là luân 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sự thống nhất giữa pháp luật khách quan và pháp luật chủ quan, sự thể hiện cụ thể của sự thống nhất này trong gia đình, xã hội và quốc gia chính là bậc phát triển thứ ba của ý niệm pháp lý được Hêghen gọi là đạo đức. Như vậy, ở Hêghen, luân lý với tư cách là phương diện chủ quan của hành vi và đạo đức với tư cách là phương diện khách quan của hành vi đều là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối.
Đạo đức tuy là một hiện tượng xã hội, biểu hiện trong các quan hệ gia đình, xã hội, quốc gia, nhưng về bản chất lại là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối, có nguồn gốc từ ý niệm tuyệt đối.Phoiơbắc cho rằng, đạo đức chỉ tồn tại ở đâu có mối quan hệ giữa người với người, hay nói như cách nói của ông, ở đâu có mối quan hệ giữa “tôi và anh”. Nhưng Phoiơbắc quy mọi quan hệ người vào quan hệ đạo đức và cho rằng, nguyên tắc cơ bản của đạo đức là sự thương yêu lẫn nhau giữa mọi người. Từ đó, ông tuyên truyền cho một tình yêu phổ biến và kêu gọi mọi người phải biết “hạn chế mình một cách phổ biến”. Đối với ông vươn tới một thứ đạo đức tình yêu như vậy, con người có thể khắc phục được mọi bất công, mọi đau khổ với tính cách là những ngẫu nhiên đi chệch khỏi bản chất đích thức của con người.
Mặc dù thấy được đạo đức trong quan hệ người, nhưng Phoiơbắc không thấy được tính quy định của các quan hệ kinh tế - xã hội đối với đạo đức. Vì thế, rốt cuộc đạo đức đối với ông cũng chỉ là một năng lực bẩm sinh, trừu tượng, bất biến và xét đến cùng cũng chỉ là sức mạnh từ bên ngoài gán vào cho xã hội và con người. Khác với tất cả các quan niệm trên, quan niệm mácxít khẳng định rằng, đạo đức có nguồn gốc từ lao động. Tính quy định sâu xa của lao động đối với sự hình thành đạo đức biểu hiện trước hết ở vai trò của lao động trong sự hình thành con người.
Trong tác phẩm Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người, bằng sự khái quát các tài liệu sinh học, nhân học đương thời, Ph.Ăng ghen đã chỉ ra rằng: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế, đến một mức độ mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [31, 641]. Nhưng, lao động không chỉ sáng tạo ra con người với tư cách là con người sinh vật, nghĩa là làm phát triển bộ não hoàn thiện các quan năng, mà quan trọng hơn là lao động đã sáng tạo ra con người với tư cách là con người xã hội có năng lực, các phẩm chất như: nhận thức, thẩm mỹ, đạo đức.Mác chỉ ra rằng, hành động lịch sử đầu tiên của con người là lao động. Nhưng lao động với tư cách là lao động thì không bao giờ là một hành động đơn lẻ, cá biệt. Trong các quan hệ giữa người với người, nghĩa là trong các quan hệ xã hội, con người tiến hành lao động để thỏa mãn các nhu cầu cũng như các lợi ích của mình.
Nhờ có tư duy, con người nhận ra sự cần thiết của sự tương trợ lẫn nhau trong lao động. Tính tất yếu này đòi hỏi một sự hy sinh nhất định lợi ích cá nhân cho lợi ích của người khác, lợi ích của cộng đồng. Nhưng đổi lại, lao động của con người có hiệu quả hơn. Sự tương trợ đó, ban đầu được thể hiện trên cơ sở con người ý thức được tính tất yếu về mặt lợi ích của sự tương trợ lẫn nhau.
Nhưng, sự tương trợ lẫn nhau một khi đã trở thành thói quen, tập quán thì khi đó con người nảy sinh khát vọng tương trợ tự nguyện. Khát vọng đó chính là tình cảm đạo đức đầu tiên của con người. Hành vi được điều chỉnh bởi ý thức khát vọng tương trợ tự nguyện chính là hành vi đạo đức đầu tiên của con người. Từ lao động và cùng với lao động, sự tương trợ lẫn nhau được mở rộng ra các lĩnh vực sống của con người và xã hội.
Đó chính là cơ chế của sự hình thành đạo đức. Như vậy, đạo đức có nguồn gốc từ lao động và các hoạt động sống của con người. Nó hiện diện như một phương thức điều chỉnh hành vi người đặc thù. Sự điều chỉnh ấy dựa trên cơ sở tự giác, tự nguyện và ưu tiên lợi ích của cộng đồng xã hội.
Trong Lời tựa của tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C.Mác viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [30, 15]. Luận điểm này đã giải thích bản chất tất cả các hiện tượng xã hội và trong đó có cả 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đạo đức.Như vậy, khác với tất cả các nhà thần học và triết học trước đó, C.Mác nhìn nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội. Trong sự tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác (chính trị, pháp luật, tôn giáo, nghệ thuật) và cùng với các hình thái ý thức xã hội ấy, đạo đức chịu sự quy định của tồn tại xã hội, phản ánh tồn tại xã hội.