LỜI MỞ ĐẦU Methyl hóa DNA là một trong những cơ chế chính của di truyền ngoại gen, có vai trò quan trọng trong nhiều quá trình sinh học nhƣ: phát triển phôi, điều hòa phiên mã, cấu trúc nhiễm sắc thể, bất hoạt nhiễm sắc thể X, in dấu gen và ổn định hệ gen. Do những vai trò quan trọng đó nên hiện tƣợng methyl hóa DNA có mối liên hệ với nhiều bệnh ở ngƣời. Đối với bệnh ung thƣ, hiện tƣợng methyl hóa DNA bất thƣờng đƣợc quan sát ở các tế bào bắt đầu bị tổn thƣơng cho tới các tế bào ở các giai đoạn khác nhau. Bởi vậy, methyl hóa DNA có thể trở thành dấu chuẩn tiềm năng hỗ trợ chẩn đoán sớm, tiên lƣợng và điều trị đích ung thƣ.
Các kỹ thuật phân tích methyl hóa DNA ngày càng phát triển và hoàn thiện không chỉ để đáp ứng độ nhạy và độ đặc hiệu cao mà còn có khả năng ứng dụng thực tiễn. Hiện nay, kỹ thuật khuếch đại đặc hiệu methyl MSP (Methylation-Specific PCR) đƣợc sử dụng phổ biến trong nhiều phòng thí nghiệm, bởi có độ nhạy cao và không yêu cầu thiết bị đặc biệt. Mặc dù vậy, nhƣợc điểm của MSP là không định lƣợng, có hiện tƣợng dƣơng tính giả và cần thời gian chuẩn bị gel để phân tích kết quả. Do vậy, nhiều nghiên cứu đã cải tiến kỹ thuật MSP cũng nhƣ kết hợp với các kỹ thuật khác nhằm mục đích tăng độ nhạy, độ đặc hiệu, khả năng ứng dụng trong thực tế và giảm chi phí.
Tiếp nối các nghiên cứu phân tích sự methyl hóa các gen ức chế khối u cũng nhƣ kết hợp kỹ thuật MSP và kỹ thuật lai điểm để phát hiện methyl hóa DNA của Phòng Thí nghiệm Sinh Y, chúng tôi thực hiện đề tài: “Ứng dụng kỹ thuật lai điểm để phát hiện methyl hóa gen RASSF1A, GSTP1 ở bệnh nhân ung thƣ vú và ung thƣ tuyến tiền liệt”. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. METHYL HÓA DNA VÀ UNG THƢ 1. Methyl hóa DNA Di truyền ngoại gen là những thay đổi sự biểu hiện hoặc kiểu hình có khả năng di truyền qua các thế hệ nhƣng không do biến đổi về trình tự DNA [44].
Methyl hóa DNA là một trong những cơ chế chính của di truyền ngoại gen liên quan trực tiếp tới sự biến đổi hóa học DNA. Đây là hiện tƣợng thêm một gốc methyl (-CH3) vào vị trí carbon số 5 của cytosine thành dạng 5-methylcytosine [44]. Hiện tƣợng này xảy ra ở prokaryote và eukaryote [24]. Ở vi khuẩn, methyl hóa DNA phân biệt DNA genome vi khuẩn với DNA của thực khuẩn thể, nhờ đó DNA của thực khuẩn thể bị cắt bởi các enzyme vật chủ.
Đối với thực vật, sự methyl hóa xảy ra ở các cấu trúc CG, CHG và CHH (trong đó H có thể là A, C hoặc T). Nhƣng ở động vật có vú, sự methyl hóa xảy ra ở cytosine trong dinucleotide CpG [24]. Ở động vật có vú, sự methyl hóa DNA đƣợc xúc tác bởi họ enzyme DNA methyltransferases (DNMTs) chuyển một gốc methyl từ S-adenyl methionine (SAM) vào carbon số 5 của gốc cytosine thành dạng 5-methylcytosine [24, 44]. DNMT3A và DNMT3B có thể thiết lập sự methyl mới trên sợi DNA không đƣợc biến đổi.
Mặt khác, chức năng DNMT1 trong quá trình tái bản DNA để sao chép sự methyl hóa của sợi DNA bố mẹ tới sợi mới. Cả ba enzyme này đều liên quan tới quá trình phát triển của phôi nhƣng giảm biểu hiện vào cuối giai đoạn biệt hóa [44]. Sự methyl hóa DNA có liên quan và đóng vai trò quan trọng trong bất hoạt nhiễm sắc thể X, in dấu gen, ổn định hệ gen và điều hòa biểu hiện gen [12, 61]: Bất hoạt nhiễm sắc thể X: Ở giới tính cái của động vật có vú (kiểu gen XX), một trong hai nhiễm sắc thể X bị bất hoạt để bù lại sự mất cân bằng các gen liên kết với nhiễm sắc thể X so với giới tính đực (kiểu gen XY). Quá trình này xảy ra trong giai 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đoạn phát triển phôi sớm [12].
Sự bất hoạt xảy ra ngẫu nhiên với một trong hai nhiễm sắc thể và đƣợc duy trì trên cùng nhiễm sắc thể đó trong quá trình nguyên phân của tế bào cho tới khi phát triển thành mô trƣởng thành. Cơ chế duy trì nhiễm sắc thể X bị bất hoạt là sự methyl hóa quá mức đảo CpG vùng promoter các gen phân bố dọc theo chiều dài của nhiễm sắc thể X bị bất hoạt (Hình 1. Sự methyl hóa DNA trong trƣờng hợp này xảy ra khá muộn [61]. Quá trình bất hoạt đƣợc khởi đầu bởi sự hoạt hóa các RNA không mang mã hoạt động kiểu cis (cis-acting noncoding RNA), từ đó làm kích hoạt sự thay thế các nhân tố phiên mã, thay đổi nhiễm sắc thể và sau cùng, các CpG bị methyl hóa tại đảo CpG vùng promoter [43].
Sự methyl hóa DNA rất cần thiết cho việc duy trì ổn định trạng thái không phiên mã của các gen nằm trên nhiễm sắc thể X bị bất hoạt [12]. In dấu gen: Ở động vật có vú, hệ gen có nguồn gốc từ bố và từ mẹ có chức năng không cân bằng nhau nhƣng đều cần cho sự phát triển bình thƣờng. Tính trạng của gen đƣợc biểu hiện phụ thuộc vào nguồn gốc di truyền từ bố hay mẹ. Những gen đƣợc in dấu thƣờng định vị theo cụm và các allen đƣợc đánh dấu khác nhau nhờ sự methyl hóa DNA, acetyl hóa/khử acetyl hóa histone, methyl hóa histone và thƣờng liên quan tới các sợi antisene RNA [61].
Các gen trong cụm thƣờng chịu kiểm soát của vùng điều khiển in dấu ICR (Imprinting Control Region) (Hình 1. Phôi sau khi thụ tinh, methyl hóa ICR ở dòng tế bào mầm không chịu sự tái lập chƣơng trình của genome nhƣng trong quá trình phát triển của tế bào mầm, sự methyl hóa ICR bị xóa và đƣợc thiết lập lại. ICR hoạt động khi không bị methyl hóa và không hoạt động khi bị methyl hóa. Ở trạng thái hoạt động, ICR sẽ điều khiển các gen bị in dấu biểu hiện [48].
Ổn định hệ gen: Methyl hóa DNA đóng vai trò ổn định hệ gen bằng cách bất hoạt phiên mã các trình tự DNA lặp lại và các transposon nội sinh [61]. Hoạt động phiên mã ở các vùng này bị ức chế bởi sự methyl hóa quá mức. Nếu các transposon không bị ức chế bởi sự methyl hóa thì có thể làm đồng hoạt hóa các gen xung quanh hoặc phiên mã các yếu tố có khả năng di chuyển (Hình 1. Nếu vùng lặp lại ở gần 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tâm động đƣợc hoạt hóa phiên mã thì gây ra sắp xếp lại các vùng lân cận tâm động, có khả năng là nguyên nhân dẫn đến các nhiễm sắc thể không xếp hàng trong nguyên phân (Hình 1.
Sự methyl hóa DNA trong genome động vật có vú [43]. (A) Phân loại promoter của gen dựa trên mật độ CpG bị methyl hóa. (B) Các transposon bị ức chế bởi sự methyl hóa DNA. (C) Sự methyl hóa DNA ức chế phiên mã của các trình tự lặp lại vùng tâm động.
(D) Sự methyl hóa DNA duy trì bất hoạt gen trên một nhiễm sắc thể X. (E) In dấu gen điều khiển biểu hiện gen đặc hiệu allen. Sự methyl hóa DNA tại vùng điều khiển in dấu điều hòa các protein bám hoặc biểu hiện của các RNA không mang mã hoạt động kiểu cis. Điều hòa biểu hiện gen: Phân bố CpG đƣợc coi là vùng quan trọng cho sự điều hòa của di truyền ngoại gen tới biểu hiện gen [41].
CpG phân bố không ngẫu nhiên trong genome mà tập trung thành vùng đƣợc gọi là đảo CpG [11]. Đảo CpG chiếm 1- 2% genome, dài 200 bp đến vài kb, thành phần G và C ít nhất chiếm 50% với tỉ lệ quan sát/mong đợi >0,6 [11, 41]. Các nghiên cứu hiện tại bổ sung thêm vào xung quanh đảo CpG các vùng CpG lân cận. Mặc dù các vùng này có mật độ CpG thấp hơn nhƣng lại có chức năng quan trọng đối với điều hòa biểu hiện gen.
Ví dụ, trong quá trình biệt hóa 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tế bào, sự methyl hóa vùng CpG cách đảo CpG 2 kb diễn ra mạnh hơn sự methyl hóa tại đảo CpG, chứng tỏ vai trò chính của vùng lân cận này đối với hƣớng biệt hóa của tế bào [14]. Đảo CpG thƣờng gần với vùng promoter và/hoặc exon của gen [11]. Mật độ CpG vùng promoter xác định sự methyl hóa sẽ ảnh hƣởng tới biểu hiện gen (Hình 1. Theo nghiên cứu của Lister và cs.
(2009), vùng promoter giàu CpG (High- density CpG Promoter, HCP) không bị methyl hóa ở tất cả các mô ngay cả khi sự phiên mã của gen liên quan bị bất hoạt. Vùng promoter mật độ CpG thấp (Low-density CpG Promoter, LCP) hầu nhƣ bị methyl hóa không kể tới sự hoạt hóa hay ức chế của gen. Ngƣợc lại, sự methyl hóa ở vùng promoter có mật độ CpG trung bình (Intermediate- density CpG Promoter, ICP) có liên quan tới sự bất hoạt gen [40]. Bất hoạt phiên mã bởi sự methyl hóa DNA chƣa đƣợc hiểu biết đầy đủ mặc dù đã có nhiều cơ chế đƣợc đƣa ra.
Cơ chế thứ nhất, sự methyl hóa tại trình tự DNA điều hòa đặc hiệu và việc thêm nhóm methyl vào DNA có thể ngăn cản các protein điều hòa bám vào trình tự này [12]. Vì thế, sự methyl hóa DNA theo cơ chế này sẽ trực tiếp ngăn cản các gen hoạt động. Một cơ chế khác điều hòa gián tiếp thông qua protein bám DNA. Những protein này có vùng bám DNA bị methyl hóa nên có thể nhận biết và bám vào một hoặc nhiều CpG bị methyl hóa.
Sau đó, chúng tƣơng tác hoặc tham gia vào phức bất hoạt quá trình phiên mã nhƣ phức tái cấu trúc nhiễm sắc thể và/hoặc các enzyme biến đổi histone [12]. Methyl hóa DNA và ung thƣ Methyl hóa DNA có nhiều ƣu điểm để trở thành chỉ thị sinh học trong ung thƣ và ứng dụng trong lâm sàng. Thứ nhất, các chỉ thị methyl hóa DNA đặc hiệu cho các tế bào khối u và xảy ra với phần trăm cao hơn so với biến đổi di truyền [30]. Thứ hai, DNA là phân tử hóa học ổn định, vì thế, có thể khuếch đại và phát hiện dễ dàng.
Thứ ba, các khối u có nhiều vùng bị methyl hóa bất thƣờng, một trong số đó đặc hiệu cho từng loại khối u trong khi một số khác có mặt ở hầu hết các loại khối u [30]. Do đó, methyl hóa bất thƣờng DNA có thể đƣợc tìm thấy trong các tế bào biểu mô có vẻ bình 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thƣờng [30]. Ƣu điểm này của dấu chuẩn methyl hóa DNA đã đáp ứng yêu cầu phát hiện sớm và sàng lọc quần thể ngƣời có nguy cơ mắc ung thƣ.