Chương 1 GIỚI THIEU Trong những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển của khoa học công nghệ nhanh như vũ bão thì quy mô kinh doanh ngày càng mở rộng, nguy cơ về GLKT đã trở thành một thách thức cực kỳ lớn đối với các doanh nghiệp và hệ thống tài chính (HTTC) toàn cầu. GLKT không chỉ anh hưởng đến sự công bằng và sự minh bạch trong việc quan lý tài chính, mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng đối với doanh nghiệp và thị trường tài chính xã hội nói chung. Đề giải quyết hiệu quả vấn đề này, những nghiên cứu về việc phát hiện các GLKT dựa trên BCTC bằng phương pháp máy học đã trở thành một trong lĩnh vực nghiên cứu được quan tâm rất nhiều. Đối với những doanh nghiệp, khả năng ứng dụng mô hình máy học (MHMH) khác nhau dé phục vụ việc phân tích các dữ liệu tài chính và phát hiện những biểu hiện của gian lận sẽ mang lại sự linh hoạt và hiểu quả hơn các phương pháp truyền thống trước đây.
Báo cáo tài chính - Gian lận kế toán 1. Báo cáo tài chính Báo cáo tài chính (BCTC) [1] là một tập hợp các báo cáo chứa hệ thống thông tin kinh tế, tài chính được trình bày một cách chặt chẽ dưới dạng bảng biểu, giúp cung cấp những thông tin về tình hình tài chính, cũng như kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền của một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian cụ thể. BCTC là công cụ giúp các nhà đầu tư tài chính, các don vị tin dụng và những bên liên quan hiểu rõ tình hình tài chính của các doanh nghiệp. Hệ thông các thông tin tài chính, kinh tế được trình bày minh bạch, trung thực trên các BCTC đóng góp quan trọng vào sự 6n định của thị trường kinh doanh và xã hội.
Với sự phát triển mạnh mẽ và không ngừng của nền kinh tế, cùng với sự mở rộng quy mô kinh doanh của các công ty và các hoạt động thương mại toàn cầu là những nguyên nhân chính dẫn đến công tác kế toán và kiểm toán trở nên phức tạp hơn trước. Tuy nhiên, nghiên cứu của Ferdy, Geert và Suzanne (2009) [2], việc cố tình “bóp méo” các số liệu làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng BCTC, đồng thời tính phù hợp và tính chính xác trên BCTC cũng bị ảnh hưởng. Hệ thống BCTC của doanh nghiệp và các tập đoàn hiện nay được chia thành bốn loại báo cáo chính: báo cáo lưu chuyền tiền tệ, bảng cân đối kế toán (BCDKT), báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD) và thuyết minh BCTC [3]. Các BCTC cung cấp đa dạng các thông tin chi tiết khác nhau về tình hình kinh tế, tài chính của các doanh nghiệp.
Thông 12 qua những thông tin này giúp người sử dụng thông tin có cái nhìn cụ thé hơn và có những quyết định kinh doanh hợp lý. Cụ thê các loại BCTC: - Bao cáo lưu chuyền tiền tệ: là BCTC phan ánh dòng tiền ra và vào của doanh nghiệp trong khoảng thời gian cụ thé, chia thành ba hoạt động chính là dòng tiền từ các hoạt động tài chính, các hoạt động đầu tư và các hoạt động kinh doanh. - Bảng cân đối kế toán: là một trong những thành phần quan trọng trong bộ BCTC của các tổ chức trong lĩnh vực tài chính - kế toán. Bảng cân đối kế toán cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình tài sản, vốn hóa chủ sở hữu và số nợ phải trả của doanh nghiệp tại một thời điểm cụ thé.
Nó cho thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách phân loại nguồn vốn và tài sản. - Báo cáo kết quả kinh doanh: là một tài liệu quan trọng trong lĩnh vực kế toán, thé hiện các khoảng doanh thu, khoảng lợi nhuận và chi phí doanh nghiệp trong khoảng thời gian cụ thê (thường là quý hoặc năm). - _ Thuyết minh BCTC: là tài liệu cung cấp thông tin bổ sung và giải thích chỉ tiết về các số liệu, chính sách kế toán áp dụng và thông tin các sự kiện lớn ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thuyết minh BCTC giúp người đọc Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa các BCTC 13 1.
Gian lận kế toán Hình vi gian lận là việc có ý (hoặc cố tình) do một hay nhiều thành viên trong ban lãnh đạo, cũng có thể do các nhân viên trong doanh nghiệp hoặc bên đối tác của doanh nghiệp thực hiện những hành vi xấu dé thực hiện trục lợi bất chính những tài sản của doanh nghiệp. Những hành vi gian lận này được thực hiện tinh vi và che dau rất kỹ càng vậy nên khó bị phát hiện. Các hành vi gian lận gồm ba loại: tham ô, GLKT và biển thủ tài sản [4]. Gian lận kế toán hoặc gian lận tài chính (GLTC) là hành vi không trung thực và vi phạm quy tắc, quy định kế toán hoặc tiêu chuẩn tài chính nhằm cung cấp thông tin tài chính (TTTC) sai lệch trên báo cáo tai chính (BCTC), đánh lừa và không trung thực với mục dich lợi ích cá nhân hoặc tổ chức.
Gian lận BCTC thường là việc cố ý làm sai số liệu báo cáo liên quan đến các nội dung được công bố trong BCTC của một doanh nghiệp. Hành vi gian lận BCTC bao gồm những sai sót, nhằm lẫn số liệu hoặc giải thích thông tin không rõ ràng nhằm lừa dối người dùng BCTC. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai sót này, có thé do lãnh đạo doanh nghiệp có ý điều chỉnh kết quả hoạt động kinh doanh, làm cho người sử dụng thông tin hiểu sai về tình hình hoạt động và khả năng sinh lời của doanh nghiệp được kiểm toán. Các mục đích của việc gian lận BCTC bao gồm: - Giam thiéu số thuế thu nhập doanh nghiệp (TTNDN) của công ty.
- Làm tăng giá trị vốn ảo của công ty trên thị trường chứng khoán. - _ Làm cho BCTC khóp với dự báo mà những nha phân tích tài chính đã đưa ra. - Đạt được những hợp đồng vay vốn hoặc giúp những nhà điều hành doanh nghiệp nhận được những đãi ngộ tốt trong ngăn han. Những sai lệch thông tin trong BCTC đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường, ảnh hưởng đến quyết định tài chính của những nhà đầu tư và những đơn vị hỗ trợ tín dụng, đồng thời làm giảm đáng kê chất lượng của những BCTC.
Qua khảo sát, hành vi gian lận biển thủ tài sản chiếm khoảng 90% [1] nhưng gây ra mức thiệt hại cho nền kinh tế là thấp nhất. Mặc dù hành vi gian lận trên BCTC có tỷ lệ thấp, nhưng gây ra những hậu quả nghiêm trong cho nên kinh tế. Dấu hiệu của gian lận kế toán trong BCTC 1. Động cơ thực hiện gian lận BCTC 14 Tam giác gian lận (TGGL) là mô hình nghiên cứu của nhà khoa học Donald R.Cressey được giới thiệu vào năm 1953 [5].
Công trình nghiên cứu này được coi là nền tang cơ bản dé giải thích các hành vi gian lận trong BCTC dựa trên góc nhìn hành vi. Tác giả đã tập trung phân tích, đánh giá những hành vi gian lận dưới góc độ biên thủ và tham 6. Dé tìm ra đâu là nguyên nhân của việc vi phạm pháp luật, tác giả dựa trên khảo sát với 200 tội phạm kinh tế khác nhau. Mô hình TGGL mô tả các thành phần và yếu tố dẫn đến hành vi gian lận.
Ngày nay, mô hình nghiên cứu TGGL này đã trở thành một trong những mô hình chuân được sử dụng trong nhiêu lĩnh vực nghiên cứu vê gian lận.2: Mô hình tam giác gian lận (Fraud Triangle) [5] Hình 1.2 trình bày mô hình “Tam giác gian lận” [12], mô hình này gồm ba thành phần cấu thành bao gồm: sự hợp lý hóa, áp lực và cơ hội. Sự hợp lý hóa là sự biện minh hoặc lý do mà cá nhân sử dụng dé hợp lý hóa hành vi gian lận. Đây là cách mà cá nhân thuyết phục bản thân rằng hành vi gian lận là hợp lý, ho tìm cách dé hợp thức hóa hành vi sai trái đó và tự “thôi miên” bản thân thực hiện các hành động gian lận. Ap lực là những yếu tổ (bên ngoài hoặc nội bộ công ty) có thé khiến các nhà quản lý doanh nghiệp có tình làm sai lệch BCTC [6].
Ba yếu tố chính dẫn đến việc các nhà quản lý bóp méo số liệu trên BCTC là: những rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải liên quan đến môi trường kinh doanh, cân bằng kính doanh và lợi nhuận; những cạnh tranh không lành 15 mạnh hoặc các vấn đề nội bộ của công ty; áp lực từ các bên thứ ba đối với các nhà quản lý doanh nghiệp, chang hạn như các đối tác, cơ quan giám sát hoặc nhà dau tư. Cơ hội là những điều kiện thuận lợi cho các nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện các hành vi làm sai sót nghiêm trọng trong BCTC. Các BCTC có thể gian lận do ngành nghề hoạt động của công ty, cau trúc tổ chức phức tạp hoặc không én định, kiểm toán nội bộ không hoạt động tốt và không giám sát công tác quản trị. Dấu hiệu gian lận trên BCTC Dé phát hiện các gian lận trên các BCTC, các chuyên gia phân tích và kiểm toán viên (KTV) thường thực hiện phân tích, quan sát và đánh giá dựa trên nhiều dấu hiệu khác nhau.
Khi doanh thu của một doanh nghiệp tăng cao một cách bat thường so với các doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành nghề là một dấu hiệu nhận thấy rõ đầu tiên. Số lượng hàng bán của doanh nghiệp bị trả về lớn hơn những doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành nghề và so với số lượng bán hàng trong quá khứ cũng có thê là một dấu hiệu gian lận trong BCTC. Đa số trong những trường hợp này, hàng hóa bị trả về do chất lượng không tốt hoặc không đáp ứng được yêu cầu. Tuy nhiên, một số công ty có thé sử dụng hàng hóa bị hoàn tra dé che giấu các khoản doanh thu sai trong kỳ kế toán trước đó.
Đây là một trong những dấu hiệu mà các chuyên gia phân tích và kiểm toán viên thường xuyên quan sát dé phát hiện và điều tra sự gian lận trong BCTC. Doanh thu của một quý trong năm tăng bất ngờ khi so sánh với những quý khác trong cùng một năm hoặc so với cùng thời điểm những năm trước đó. Đây là một dấu hiệu thường gặp trong gian lận trên các BCTC. Nếu doanh nghiệp này không hoạt động trong ngành sản xuất theo mùa nhưng lại ghi nhận doanh thu tăng đột biến, cần xem xét các mục đích và chiến lược khác nhau của doanh nghiệp trong tương lai (ví dụ niêm yết trên sàn chứng khoán hoặc chuẩn bị đấu thầu dự án).