mở đầu: Có 9 đột biến liên quan tới codon ATG là tín hiệu bắt đầu dịch mã dẫn tới kiểu hình βo-thalassemia [70]. Đột biến vô nghĩa: Một số đột biến thay thế dẫn tới kết thúc sớm chuỗi β-globin. Nguyên nhân là do đột biến trực tiếp tạo codon kết thúc hoặc thêm hay mất một vài nucleotide dẫn tới thay đổi khung đọc mở, tạo 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com codon kết thúc sớm. Ví dụ, đột biến tại Cd 17 (A→T) của exon 1, làm thay đổi axit amin lysine chuyển thành thymine, đƣợc phiên mã thành bộ ba kết thúc UAG ở mRNA là đột biến phổ biến ở Thái Lan và Việt Nam [12,57].
Đột biến khung: Thêm hoặc mất một hoặc vài nucleotide làm thay đổi khung đọc mở tạo kiểu hình β+-thalassemia. Điển hình nhƣ đột biến mất nucleotide A tại Cd 6 phổ biến ở khu vực Địa Trung Hải, đột biến gây lệch khung đọc do mất 4 nucleotide TCTT tại Cd 41 và 42 phổ biến ở Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam [15,57]. Các đột biến trên gen β-globin gây bệnh β-thalassemia [45]. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Svasti cho thấy có 8 đột biến thƣờng gặp, chiếm khoảng 95% các trƣờng hợp β-thalassemia bao gồm: Cd 17 (A→T), Cd 41/42 (-TCTT), -28 (A→G), Cd 71/72 (+A), IVS1.4 Đặc điểm kiểu hình của bệnh β-thalassemia Dựa vào biểu hiện lâm sàng, bệnh β-thalassemia đƣợc chia thành ba thể chính: thể nặng, thể trung gian, thể nhẹ (Bảng 1.
Đặc điểm kiểu hình của bệnh β-thalassemia [30] Kiểu hình Kiểu gen đột biến Chỉ số hồng cầu Đặc điểm Hb 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com β- β+/β+ Hb <7 g/dL HbA2 tăng thalassemia βo/βo MCV: 50-60 fL HbF: 70-90% thể nặng β+/β+ MCH: 14-20 pg β- β+/β++ Hb: 6-10 g/dL HbA2 tăng thalassemia β+/βo MCV: 55-70 fL HbF tăng đến thể trung βo/βo + yếu tố ảnh MCH: 15-23 pg 100% gian hƣởng β++/β Hb nam: 9-15 HbA2 >3.2% β+/β g/dL HbF: 0,5-6% β- Hb nữ: 9-13 thalassemia βo/β g/dL thể nhẹ MCV: 55-75 fL MCH: 19-25 pg β-thalassemia thể nặng: Trẻ sơ sinh mắc bệnh β-thalassemia thể nặng có biểu hiện lâm sàng rất sớm, từ 6 tháng đến 24 tháng tuổi. Trẻ bị tình trạng thiếu máu nghiêm trọng. Do đó, cần đƣợc điều trị bằng truyền máu thƣờng xuyên. Trẻ kém phát triển, có thể gặp các vấn đề nhƣ tiêu chảy, sốt, bụng to, lách to, xanh xao, vàng da, dị tật xƣơng bao gồm xƣơng dài ở chân, điển hình là thay đổi hộp sọ và mặt [23].
Bệnh nhân thalassemia thể nặng có số lƣợng tế bào hồng cầu tăng lên, thể tích trung bình của hồng cầu (MCV) thấp, lƣợng hemoglobin trung bình trong mỗi hồng cầu (MCH) ở mức trung bình [13]. β-thalassemia thể trung gian: Bệnh nhân β-thalassemia thể trung gian có biểu hiện lâm sàng nhẹ hơn thể nặng, không yêu cầu hoặc chỉ thỉnh thoảng phải truyền máu. Trẻ em biểu hiện bệnh rõ ràng ở độ tuổi từ 2 đến 6. Trẻ bị chậm phát triển hoặc hoàn toàn không có biểu hiện gì cho tới khi trƣởng thành ngoại trừ thiếu máu nhẹ [23].
β-thalassemia thể nhẹ: Bệnh nhân thể nhẹ thƣờng không có biểu hiện lâm sàng, nhƣng thỉnh thoảng thiếu máu nhẹ. Khi cả hai bố mẹ bị thể nhẹ thì xác suất 25% con sinh ra có nguy cơ mắc bệnh β-thalassemia thể nặng [23]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các đặc điểm huyết học đặc trƣng là tế bào hồng cầu nhỏ và nhợt nhạt hơn so với bình thƣờng, tăng HbA2 [13]. Ngoài ra, còn có các thể β-thalassemia khác nhƣ: thể phối hợp Hemoglobin E (HbE) và β-thalassemia; thể phối hợp β-thalassemia và α- thalassemia.
Thể phối hợp Hemoglobin E (HbE) và β-thalassemia: Đột biến ở Cd 26 (G→A) thuộc exon 1, làm thay đổi axit amin glutamate thành lysin, tạo thể HbE [70]. Kiểu gen dị hợp tử hoặc đồng hợp tử HbE mà không phối hợp với β-thalassemia chỉ gây kiểu hình β-thalassemia thể nhẹ. Tuy nhiên ở những trẻ này vẫn có biểu hiện chậm phát triển ở mức độ vừa phải, thiếu máu nhẹ, ảnh hƣởng đến phát triển thể lực và tinh thần [70]. Sự kết hợp của HbE với β-thalassemia làm cho biểu hiện lâm sàng trở nên đa dạng, có thể thay đổi giống nhƣ thalassemia từ thể nặng đến thể nhẹ [70]: - β-thalassaemia/HbE thể nhẹ: không cần điều trị và hiếm khi biểu hiện các triệu chứng lâm sàng, nồng độ hemoglobin từ 9-12 g/dl.
Thể HbE kết hợp với các đột biến -28 (A→G) hoặc Cd 19 (A→G) có thể dẫn tới kiểu hình thể nhẹ [70]. - β-thalassaemia/HbE thể trung gian: triệu chứng giống với β- thalassemia thể trung gian, nồng độ hemoglobin từ 6-7 g/dl. Thể HbE kết hợp với đột biến IVS1. - β-thalassaemia/HbE thể nặng: triệu chứng giống với β-thalassemia thể nặng, nồng độ hemoglobin thấp, chỉ từ 4-5 g/dl.
Thể HbE kết hợp với các đột biến Cd 17 (A→T) hoặc Cd 41/42 (-TCTT) có thể dẫn tới kiểu hình thể nặng [70]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thể phối hợp β-thalassemia và α-thalassemia: Sự kết hợp đột biến α- thalassemia có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của β-thalassemia thể nặng thành thể trung gian. Trong hầu hết các trƣờng hợp bệnh đều có liên quan đến kết hợp 3 gen α-globin (ααα/). Thừa hai gen α-globin (ααα/ααα) hoặc (αααα/αα) kết hợp với β-thalassemia thể nhẹ tạo thalassaemia thể trung gian [8,24].
Tuy nhiên, khi thừa một gen α (ααα/αα) thì kiểu hình lâm sàng phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của đột biến β-thalassemia [10,62].5 Các phƣơng pháp chẩn đoán bệnh 1.1 Chẩn đoán lâm sàng Trẻ bị thalassemia thể nặng sau hai tuổi bị nghi ngờ mắc bệnh β- thalassemia với các biểu hiện thiếu máu nặng, vàng da, lách to. Trẻ bị thalassemia thể trung gian có biểu hiện lâm sàng nhẹ hơn. Với trẻ mang gen bệnh thƣờng không có triệu chứng, đôi khi chỉ là thiếu máu nhẹ [22].2 Chẩn đoán huyết học Chỉ số hồng cầu: Bệnh nhân thalassemia thể nặng có nồng độ hemoglobin (Hb) giảm (<7 g/dl), thể tích trung bình hồng cầu (MCV) trong khoảng 50-60 fl và lƣợng hemoglobin trung bình trong một hồng cầu (MCH) từ 14-20 pg. Bệnh nhân thalassemia thể trung bình có nồng độ Hb từ 6-10 g/dl, MCV từ 55-70 fl và MCH từ 15-23 pg.
Bệnh nhân thalassemia thể nhẹ có nồng độ Hb từ 9-15 g/dL đối với nam và 9-13 g/dL (đối với nữ), MCV từ 55-75 fL, MCH từ 19-25 pg (Bảng 1) [30]. Phân tích tế bào máu ngoại vi: Quan sát dƣới kính hiển vi, ngƣời bị bệnh thalassemia có hồng cầu nhợt nhạt, nhỏ hơn so với bình thƣờng, phần lớn có hình dạng bất thƣờng [13]. Phân tích hemoglobin: Hầu hết các quy trình chẩn đoán bệnh nhân thalassemia hiện nay đều sử dụng phƣơng pháp phân tích các chỉ số hồng cầu 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com để sàng lọc ban đầu. Sau đó, sử dụng kỹ thuật sắc kí lỏng hiệu năng cao (High Performance Liquid Chromatography - HPLC) để phân tích hemoglobin trong mẫu dựa trên các chỉ số MCV nhỏ hơn 78 fl và/hoặc MCH nhỏ hơn 27 pg [19].
Tuy vậy, quy trình này không đƣợc sử dụng phổ biến ở vùng nông thôn các khu vực Đông Nam Á, Nam Á do điều kiện vật chất và thiết bị không đủ. Thay vào đó, tại các quốc gia nhƣ Thái Lan và Ấn Độ, việc sử dụng xét nghiệm tủa HbE để sàng lọc HbE (Dichlorophenol Indophenol Test - DCIP) là lựa chọn thay thế đơn giản và chi phí thấp để sàng lọc sơ bộ β-thalassemia [22]. Hemoglobin trong hồng cầu thay đổi tùy từng giai đoạn phát triển của cơ thể. Hemoglobin thời kì bào thai (từ tháng thứ 3 đến khi sinh) là HbF, đƣợc tạo thành từ 2 chuỗi alpha globin và gamma globin (α2γ2).
Sau khi sinh, chuỗi γ (HbF) không đƣợc tổng hợp, thay thế vào đó là chuỗi β, tạo hemoglobin ở ngƣời trƣởng thành gồm HbA1 với 2 chuỗi alpha globin và beta globin (α2β2) và HbA2 với 2 chuỗi alpha globin và delta globin (α2δ2) [11]. Trong điều kiện bình thƣờng, hồng cầu ngƣời trƣởng thành có khoảng 98% HbA1, 2% HbA2 và rất ít HbF [11]. Các trƣờng hợp bệnh β-thalassemia, chuỗi β-globin không đƣợc tổng hợp đầy đủ, làm tăng sản xuất các chuỗi γ, δ, α dẫn tới tình trạng giảm HbA1, tăng HbF và HbA2. Đối với các trƣờng hợp có đột biến Cd 26 gây thể HbE sẽ có hiện diện HbE≥25% trên điện di Hb [11].
Do đó, HbA1, HbF, HbA2, HbE đƣợc coi là các tiêu chuẩn điện di hemoglobin đóng vai trò quyết định để chẩn đoán bệnh β-thalassemia [11]. HbA2≥4,0% là chỉ số thƣờng đƣợc dùng để chẩn đoán β-thalassemia. Trƣờng hợp HbA2≥4,0% và chỉ số hồng cầu giảm, đƣợc chẩn đoán là mang gen bệnh β-thalassemia. Khi HbA2>4,0%, nhƣng chỉ số hồng cầu bình thƣờng, ngƣời bệnh có thể thiếu vitamin B12/folate, bệnh gan hoặc nhiễm HIV.
Các trƣờng hợp có HbA2 từ 3,3-3,9% cần khẳng định bằng phân tích ADN. Tuy nhiên, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mức độ HbA2 và/hoặc chỉ số hồng cầu có thể bình thƣờng ở ngƣời bệnh β- thalassemia có gen β-globin bị đột biến vùng promoter hoặc đuôi poly A. Khi đỉnh HbA2>10%, ngƣời bệnh có thể có các biến thể hemoglobin khác, ví dụ HbE, HbS,. Sơ đồ sàng lọc ngƣời lành mang gen bệnh β-thalassemia đƣợc trình bày ở Hình 1.
Biểu đồ sàng lọc ngƣời bệnh β-thalassemia [14].3 Phân tích di truyền phân tử Hầu hết các kỹ thuật phát hiện các đột biến trên gen β-globin hiện nay thƣờng dựa trên PCR, đƣợc chia thành hai nhóm chính: lai oligonucleotide đặc hiệu allen và mồi đặc hiệu allen [23]. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lai oligonucleotide đặc hiệu allen (Allele - specific oligonucleotide hybridization): Trong nhóm phƣơng pháp này, yêu cầu thiết kế hai đầu dò oligonucleotide, một đầu dò bổ sung với trình tự ADN đột biến và một đầu dò bổ sung với trình tự bình thƣờng tại cùng vị trí. Các đầu dò này thƣờng chỉ sai khác nhau một nucleotide. Dựa trên nguyên tắc này, kỹ thuật lai điểm (dot blot) đã đƣợc phát triển và áp dụng thành công ở nhiều phòng thí nghiệm.
Tại Địa Trung Hải năm 1989, kỹ thuật này đã đƣợc Ristaldi và cs. sử dụng để sàng lọc 8 đột biến trên gen β-globin [48]. Trong kỹ thuật lai điểm, trình tự ADN đích đƣợc cố định trên màng nylon, sau đó lai với đầu dò đƣợc đánh dấu. Tuy nhiên, trong trƣờng hợp sàng lọc nhiều đột biến, kỹ thuật lai điểm gây tốn thời gian do các bƣớc lai và rửa cần riêng biệt đối với từng đột biến.
Do đó, kỹ thuật lai điểm ngƣợc (reverse dot blot) đã đƣợc phát triển cho phép phát hiện đƣợc đồng thời nhiều đột biến. Đầu dò đƣợc cố định trên màng nylon, sau đó lai với ADN đƣợc đánh dấu. Các bƣớc lai và rửa đƣợc tiến hành đồng thời đối với tất cả các đột biến [53]. Mồi đặc hiệu allen (Allele - specific priming): Nhóm phƣơng pháp này dựa trên nguyên tắc mồi PCR bắt cặp hoàn toàn với khuôn sẽ có hiệu quả kéo dài hơn so với mồi có nucleotide bắt cặp sai, đặc biệt tại đầu 3‟ [42].