CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái quát về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất 1. Thế chấp quyền sử dụng đất 1. Quan niệm về quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất là một thuật ngữ pháp lý lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật Đất đai năm 1987.
Thuật ngữ quyền sử dụng đất tiếp tục được sử dụng trong Luật Đất đai năm 1993. Luật Đất đai năm 1993 đã chính thức ghi nhận quyền sử dụng 8 9 đất ổn định, lâu dài của hộ gia đình, cá nhân và cho phép họ được chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng. Với quy định này của Luật Đất đai năm 1993, quan hệ sở hữu đất đai ở nước ta được mang một ý nghĩa mới: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, quyền sử dụng đất thuộc về người sử dụng đất. Hay nói cách khác, kể từ đây, quyền sử dụng đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai và được chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho người sử dụng đất thực hiện và trở thành một quyền tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất.
Từ đó đến nay, khái niệm quyền sử dụng đất vẫn tiếp tục được ghi nhận trong Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013. Phân tích Luật Đất đai hiện hành 2013 cho thấy, QSDĐ của các chủ thể sử dụng đất được xác lập thông qua các hình thức pháp lý cơ bản như: Nhà nước giao QSDĐ, Nhà nước cho thuê QSDĐ, Nhà nước công nhận QSDĐ và Nhà nước cho phép chuyển QSDĐ. Trên cơ sở sự cho phép này, QSDĐ của những người sử dụng đất được hình thành. Đây là cơ sở pháp lý tiền đề để người sử dụng đất được quyền khai thác, sử dụng đất hoặc “định đoạt” số phận pháp lý về QSDĐ của mình như: tự quyền đầu tư công sức, vật tư, tiền vốn, khoa học kỹ thuật và khả năng của mình để khai thác các giá trị, các lợi ích của đất trên cơ sở các mục đích đã được Nhà nước xác định; hoặc người sử dụng đất chuyển giao QSDĐ của mình cho người khác để thu lợi4.
Tuy nhiên, cần phải xác định rằng, quyền khai thác hay định đoạt QSDĐ của người sử dụng đất phải trên cơ sở mục đích sử dụng đất đã được Nhà nước xác định, hay sự chuyển giao cho người khác cũng phải trên cơ sở được Nhà nước cho phép. Có thể khẳng định rằng, vai trò của Nhà nước là thông qua công cụ pháp luật xác lập những điều kiện tiền đề để QSDĐ của mỗi tổ chức, cá nhân được thực hiện trên thực tế. Bằng các quy định cụ thể, pháp luật cho phép người sử dụng đất được thực hiện những quyền cụ thể hoặc yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhất định để thỏa mãn lợi ích của mình. Ở khía cạnh này, tác giả Nguyễn Thị Nga nhận định: “QSDĐ là những khả năng của một chủ thể được thực hiện 4 Nguyễn Văn Hiến (2017), Chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội, tr45 9 10 hoặc được hưởng những quyền nhất định khi khai thác và sử dụng đất.
Những quyền đó được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện trên thực tế”. Như vậy có thể thấy, QSDĐ không chỉ là một quyền năng thông thường của chủ sở hữu tài sản mà nó là một loại tài sản. Khi còn trong tay Nhà nước, QSDĐ chỉ là một trong các quyền năng của chủ sở hữu, nhưng khi đã chuyển giao cho người SDĐ thì QSDĐ được chuyển hóa thành một loại tài sản đặc biệt. Đây là yêu cầu khách quan cho việc “thị trường hóa đất đai” trong nền kinh tế thị trường, khi mà người SDĐ không trực tiếp có quyền sở hữu đất đai và người sở hữu đất đai lại không trực tiếp sử dụng đất5.
Có thể khẳng định rằng, QSDĐ trong pháp luật đất đai hiện hành là không chỉ dừng lại ở việc chỉ được sử dụng mà QSDĐ phải được coi là tổng thể không thể tách rời với các quyền của người SDĐ theo quy định của pháp luật đất đai. Tổng thể này làm cho QSDĐ trở thành một tài sản đặc biệt có thể được chuyển dịch giữa những người SDĐ với nhau mà thông qua đó có thể làm thay đổi chủ thể chiếm hữu và sử dụng đất đai. Nghiên cứu bình luận chuyên sâu và toàn diện về QSDĐ, tác giả Nguyễn Thùy Trang đã chỉ ra các đặc trưng của quyền sử dụng đất trên ba phương diện tiếp cận: (i) Quyền sử dụng đất là một trong những nội dung của quyền sở hữu; (ii) Quyền sử dụng đất là vật quyền; (iii) Quyền sử dụng đất là tài sản6. Khái niệm, đặc điểm thế chấp quyền sử dụng đất 1.
Khái niệm thế chấp quyền sử dụng đất Trong giao lưu dân sự, để quyền lợi của bên có quyền được đảm bảo và nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ được thực hiện đúng và đầy đủ thì luôn cần tới các biện pháp thế chấp. Đối tượng của biện pháp thế chấp hầu hết là tài sản, đặc biệt là những tài sản có giá trị cao. Tuy nhiên, trên thực tế, do yêu cầu sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu tài sản, việc giao tài sản cho bên có quyền trực tiếp nắm giữ không đảm bảo 5 Lưu Quốc Thái (2016), “Những vấn đề pháp lý về thị trường quyền sử dụng đất Việt Nam”, Nxb. Hồng Đức, tr.30 6 Nguyễn Thùy Trang (2016), Quyền sử dụng đất - một số quan điểm tiếp cận và đề xuất hướng giải quyết trong khoa học pháp lý của Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 4/2016, tr.
10 11 một cách tốt hơn lợi ích cho người có quyền, nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh cho người có nghĩa vụ, và thế chấp tài sản là biện pháp thế chấp có thể khắc phục được các hạn chế nêu trên, nên biện pháp thế chấp này luôn được ưu tiên lựa chọn. Thế chấp là một trong những hình thức giao dịch lâu đời nhất và thường xuyên được sử dụng trong lĩnh vực tài chính bất động sản. Hình thức giao dịch này có một lịch sử hình thành phát triển đồ sộ đáng để nghiên cứu; được thể hiện trong những tài liệu lâu đời phức tạp với ý nghĩa pháp lý ẩn sau những văn bản cổ xưa và các quy định pháp lý đa dạng. Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Thế chấp (tài sản) dùng làm vật bảo đảm, thay thế cho số tiền vay nếu không có khả năng trả đúng kỳ hạn7.
Như vậy, hiểu theo nghĩa cơ bản, thế chấp là cách thức bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thông qua một tài sản. Trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp thì giá trị tài sản thế chấp sẽ được dùng để thay thế cho nghĩa vụ mà bên vay đã vi phạm. Dưới giác độ pháp lý, ở những nước theo hệ thống luật Civil law, khái niệm thế chấp QSDĐ được định nghĩa là một quyền đối vật trên QSDĐ. Quyền (có tính chất vật quyền ) này trao cho bên nhận thế chấp quyền theo đuổi và quyền ưu tiên thanh toán mà không cần phải có sự chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản thế chấp là QSDĐ từ bên thế chấp (chủ sở hữu QSDĐ) sang cho bên nhận thế chấp8.
Trong theo hệ thống Common law, thế chấp QSDĐ được thiết kế dựa trên phương thức thực hiện biện pháp với hai sự lựa chọn phổ biến là chuyển giao hay không chuyển giao quyền sở hữu Tài sản thế chấp là QSDĐ; còn những nước theo hệ thống Civil law thì thế chấp QSDĐ lại được luận giải dựa trên tính chất (bản chất) của thế chấp (là biện pháp bảo đảm đối vật) dưới sự dẫn dắt và soi sáng bởi học thuyết về vật quyền và trái quyền9. Tuy khác nhau về cách tiếp cận nhưng nhìn tổng thể, xu hướng chung có tính phổ biến của hai hệ thống pháp luật này là quy định thế chấp 7 Hoàng Phê (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng 8 Phạm Văn Lưỡng (2020), “tlđd”, tr.34 9 Đỗ Thị Hải Yến (2021), Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội; tr.53 11 12 QSDĐ dưới giác độ là biện pháp thế chấp mà bên nhận thế chấp có thể thực thi quyền một cách trực tiếp trên Tài sản thế chấp là QSDĐ để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ mà không cần nắm giữ Tài sản thế chấp là QSDĐ. Ở Việt Nam, trong khoa học pháp lý, vẫn còn có các quan niệm thế chấp QSDĐ dựa trên nền tảng của các lý thuyết pháp lý khác nhau.
Có tác giả nhìn nhận bản chất thế chấp (QSDĐ) là quan hệ trái quyền, có tác giả nhìn nhận nhận bản chất thế chấp (QSDĐ) là quan hệ vật quyền, có tác giả nhìn nhận quan hệ thế chấp (QSDĐ) là sự kết hợp hài hòa giữa quan hệ trái quyền và quan hệ vật quyền. Theo tác giả Nguyễn Văn Hoạt, “Bản chất của quan hệ thế chấp tài sản (QSDĐ) để đảm bảo thực hiện hợp đồng tín dụng NHTMCP là quan hệ hợp đồng10. Trong khi đó, tác giả Nguyễn Thị Nga lại cho rằng, thế chấp tài sản (QSDĐ) được phát sinh trên cơ sở một quan hệ nghĩa vụ và thế chấp tài sản (QSDĐ) là một biện pháp thế chấp có tính chất đối vật11. Khác với tác giả Nguyễn Văn Hoạt và tác giả Nguyễn Thị Nga, tác giả Vũ Thị Hồng Yến lại cho rằng, “thế chấp là một biện pháp chứa đựng cả yếu tố trái quyền và cả yếu tố vật quyền12”.
Dưới góc độ luật thực định, cả ba BLDS: 1995, 2005, 2015 đều xây dựng khái niệm thế chấp tài sản dựa trên nền tảng của quan hệ hợp đồng (lý thuyết trái quyền) trong sự phân biệt với biện pháp cầm cố thông qua phương thức thực hiện biện pháp là không chuyển giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp. Sự khác biệt cơ bản duy nhất của BLDS 1995 so với BLDS 2005 và BLDS 2015 trong quy định về khái niệm thế chấp, đó là đối tượng của biện pháp. Theo tiếp cận của BLDS 1995, đối tượng của biện pháp thế chấp là QSDĐ, còn đối tượng của biện pháp cầm cố là động sản. Đến BLDS 2005, quan niệm này đã được sửa đổi.
Theo đó, tiêu chí xác định biện pháp thế chấp chỉ dựa trên yếu tố duy nhất, mang tính chất đặc trưng của biện pháp này, đó là không chuyển giao tài sản cho bên nhận 10 Nguyễn Văn Hoạt (2004), Một số vấn đề về thế chấp quyền sử dụng đất, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 190.