Pháp Luật về Văn Phòng Đại Diện của Tổ Chức Xúc Tiến Thương Mại Nước Ngoài Tại Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Pháp luật về văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài tại việt nam, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về luật

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

99
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Pháp Luật về Văn Phòng Đại Diện XTTM Nước Ngoài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, việc thành lập và hoạt động của văn phòng đại diện tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xúc tiến thương mại và thu hút đầu tư. Với dân số trẻ và năng động, Việt Nam là thị trường tiềm năng thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia và tổ chức. Các văn phòng đại diện này đóng vai trò cầu nối, hỗ trợ doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận thị trường, cung cấp thông tin, và thúc đẩy hợp tác kinh tế. Hoạt động này góp phần tăng cường tiềm lực kinh tế, sức mạnh tổng hợp của đất nước, tạo điều kiện chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả theo đúng tinh thần của "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020".

1.1. Khái niệm và vai trò của VPĐD tổ chức XTTM nước ngoài

Văn phòng đại diện tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị đại diện cho tổ chức XTTM nước ngoài, hoạt động hợp pháp tại Việt Nam nhằm mục đích hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam và ngược lại. Vai trò của VPĐD rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin thị trường, kết nối doanh nghiệp, tổ chức sự kiện xúc tiến, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Theo Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 100/2011/NĐ-CP, VPĐD có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động xúc tiến thương mại từ nước ngoài vào Việt Nam và ngược lại; hỗ trợ các doanh nghiệp của nước ngoài thâm nhập và hoạt động tại thị trường Việt Nam.

1.2. Lịch sử phát triển pháp luật về VPĐD tại Việt Nam

Trước năm 2011, hoạt động của VPĐD tổ chức XTTM nước ngoài được điều chỉnh chung với văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài. Tuy nhiên, từ năm 2011, với sự ra đời của Nghị định số 100/2011/NĐ-CP, một khung pháp lý riêng biệt đã được thiết lập. Điều này đánh dấu sự chuyên biệt hóa trong quản lý và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của VPĐD tổ chức XTTM. Tiếp theo đó, Thông tư 06/2012/TT-BCT và Quyết định số 135/QĐ-XTTM đã cụ thể hóa trình tự, thủ tục cấp phép, điều chỉnh, gia hạn, và chấm dứt hoạt động, giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này.

1.3. Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động VPĐD XTTM nước ngoài

Hiện nay, hoạt động của văn phòng đại diện tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau, bao gồm: Nghị định số 100/2011/NĐ-CP, Thông tư số 06/2012/TT-BCT, Thông tư số 187/2012/TT-BTC, Quyết định số 135/QĐ-XTTM, và Quyết định số 963/QĐ-BCT. Mặc dù Luật Thương mại 2005 chưa trực tiếp đề cập đến VPĐD tổ chức XTTM nước ngoài, các văn bản dưới luật đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động của các tổ chức này, góp phần thúc đẩy xúc tiến thương mại và đầu tư tại Việt Nam.

II. Điều Kiện Thành Lập Văn Phòng Đại Diện Tổ Chức XTTM tại VN

Để được cấp phép thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam, các tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện nhất định. Các điều kiện này nhằm đảm bảo năng lực hoạt động, tính hợp pháp, và tuân thủ pháp luật Việt Nam. Việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện thành lập văn phòng đại diện là yếu tố then chốt để tổ chức nước ngoài có thể triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại một cách hiệu quả và bền vững tại thị trường Việt Nam. Sự minh bạch và rõ ràng trong quy định về điều kiện thành lập giúp tạo môi trường đầu tư thuận lợi, đồng thời bảo vệ quyền lợi của cả tổ chức nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam.

2.1. Điều kiện về tư cách pháp nhân của tổ chức nước ngoài

Tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài phải là một pháp nhân hợp pháp được thành lập theo pháp luật của nước sở tại. Pháp nhân này phải có chức năng xúc tiến thương mại được quy định rõ ràng trong điều lệ hoạt động. Cung cấp các giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân là yêu cầu bắt buộc trong hồ sơ thành lập văn phòng đại diện.

2.2. Yêu cầu về năng lực tài chính và kinh nghiệm hoạt động XTTM

Tổ chức nước ngoài cần chứng minh năng lực tài chính đủ mạnh để đảm bảo hoạt động ổn định của văn phòng đại diện tại Việt Nam. Kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực xúc tiến thương mại cũng là một yếu tố quan trọng, thể hiện khả năng thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại một cách hiệu quả. Các thông tin này thường được thể hiện trong báo cáo tài chính và hồ sơ kinh nghiệm hoạt động.

2.3. Các điều kiện khác theo quy định của pháp luật Việt Nam

Ngoài các điều kiện trên, tổ chức nước ngoài phải tuân thủ các quy định khác của pháp luật Việt Nam, bao gồm các quy định về an ninh, trật tự, và các quy định liên quan đến hoạt động của văn phòng đại diện. Việc tuân thủ các quy định này là yếu tố quan trọng để đảm bảo hoạt động hợp pháp và bền vững của văn phòng đại diện tại Việt Nam.

III. Thủ Tục Thành Lập Văn Phòng Đại Diện Hướng Dẫn Chi Tiết 2024

Quá trình thành lập văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài tại Việt Nam bao gồm nhiều bước, từ chuẩn bị hồ sơ thành lập văn phòng đại diện, nộp hồ sơ, đến nhận giấy phép và thực hiện các thủ tục sau thành lập. Việc nắm vững thủ tục thành lập văn phòng đại diện là yếu tố quan trọng giúp tổ chức nước ngoài tiết kiệm thời gian, chi phí, và đảm bảo quá trình thành lập diễn ra suôn sẻ. Bộ Công Thương là cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập VPĐD.

3.1. Chuẩn bị hồ sơ thành lập văn phòng đại diện đầy đủ và chính xác

Hồ sơ thành lập văn phòng đại diện bao gồm: Đơn đề nghị thành lập văn phòng đại diện, bản sao hợp lệ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ tương đương của tổ chức nước ngoài, điều lệ hoạt động, báo cáo tài chính, và các giấy tờ khác theo quy định. Đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của hồ sơ là yếu tố quan trọng để tránh bị từ chối cấp phép.

3.2. Nộp hồ sơ và theo dõi tiến trình xử lý tại Bộ Công Thương

Sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tổ chức nước ngoài nộp hồ sơ tại Bộ Công Thương. Sau khi nộp hồ sơ, cần theo dõi tiến trình xử lý hồ sơ để kịp thời bổ sung thông tin hoặc giải trình nếu có yêu cầu. Theo Điều 3 Nghị định số 100/2011/NĐ-CP và Điều 11 Thông tư số 06/2012/TT-BCT, Cục Xúc tiến Thương mại được trao thẩm quyền trong việc cấp, điều chỉnh, cấp lại, gia hạn giấy phép của VPĐD của tổ chức XTTM nước ngoài tại Việt Nam.

3.3. Nhận giấy phép và thực hiện các thủ tục sau thành lập

Sau khi được cấp phép, tổ chức nước ngoài tiến hành các thủ tục sau thành lập, bao gồm: đăng ký con dấu, mở tài khoản ngân hàng, và thông báo hoạt động với cơ quan quản lý địa phương. Tuân thủ các thủ tục này là yếu tố quan trọng để đảm bảo hoạt động hợp pháp của văn phòng đại diện tại Việt Nam.

IV. Quyền và Nghĩa Vụ của Văn Phòng Đại Diện XTTM Nước Ngoài

Sau khi được thành lập, văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài có các quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật Việt Nam. Các quyền này giúp văn phòng đại diện thực hiện hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, trong khi các nghĩa vụ đảm bảo hoạt động tuân thủ pháp luật và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Việc hiểu rõ và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ là yếu tố quan trọng để văn phòng đại diện hoạt động hiệu quả và bền vững.

4.1. Các quyền hạn của VPĐD trong hoạt động XTTM tại Việt Nam

Văn phòng đại diện có quyền thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại theo quy định của pháp luật, bao gồm: Nghiên cứu thị trường, tổ chức hội thảo, triển lãm, kết nối doanh nghiệp, và cung cấp thông tin thị trường. Các hoạt động này phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được quy định trong giấy phép thành lập.

4.2. Nghĩa vụ tuân thủ pháp luật và báo cáo hoạt động định kỳ

Văn phòng đại diện có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật Việt Nam, bao gồm các quy định về thuế, lao động, và các quy định khác liên quan đến hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, văn phòng đại diện phải báo cáo hoạt động định kỳ cho cơ quan quản lý nhà nước theo quy định.

4.3. Các nghĩa vụ khác liên quan đến quản lý và sử dụng lao động

Văn phòng đại diện có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về lao động, bao gồm: Ký kết hợp đồng lao động, trả lương và các khoản phụ cấp, bảo hiểm cho người lao động. Đảm bảo quyền lợi của người lao động là yếu tố quan trọng để duy trì mối quan hệ lao động hài hòa và bền vững.

V. Xử Lý Vi Phạm và Chấm Dứt Hoạt Động VPĐD Xúc Tiến Thương Mại

Trong quá trình hoạt động, văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài có thể vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định. Việc chấm dứt hoạt động có thể xảy ra do vi phạm nghiêm trọng, hết thời hạn giấy phép, hoặc theo yêu cầu của tổ chức nước ngoài. Việc hiểu rõ quy trình xử lý vi phạmchấm dứt hoạt động là yếu tố quan trọng để văn phòng đại diện tuân thủ pháp luật và chuẩn bị cho các tình huống có thể xảy ra.

5.1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính đối với VPĐD

Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính đối với văn phòng đại diện có thể bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, và thu hồi giấy phép. Mức phạt và hình thức xử lý phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm.

5.2. Quy trình chấm dứt hoạt động và thanh lý tài sản của VPĐD

Khi chấm dứt hoạt động, văn phòng đại diện phải thực hiện các thủ tục thanh lý tài sản, giải quyết các nghĩa vụ tài chính, và thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước. Quy trình này phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam.

5.3. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức nước ngoài khi VPĐD chấm dứt hoạt động

Khi văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động, tổ chức nước ngoài có quyền thu hồi tài sản còn lại sau khi thanh lý và thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đồng thời, tổ chức nước ngoài phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của văn phòng đại diện.

VI. Hoàn Thiện Pháp Luật về Văn Phòng Đại Diện XTTM Nước Ngoài tại VN

Để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động của văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài tại Việt Nam, cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan. Các giải pháp có thể bao gồm: Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành, ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, và tăng cường công tác quản lý nhà nước. Việc hoàn thiện pháp luật sẽ góp phần tạo môi trường đầu tư minh bạch, hấp dẫn, và thúc đẩy xúc tiến thương mại hiệu quả.

6.1. Các kiến nghị sửa đổi bổ sung quy định pháp luật hiện hành

Các kiến nghị có thể bao gồm: Đơn giản hóa thủ tục hành chính, mở rộng phạm vi hoạt động của văn phòng đại diện, và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tuyển dụng lao động nước ngoài. Theo ý kiến của tác giả luận văn, các cơ quan chức năng cần sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của VPĐD của tổ chức XTTM nước ngoài tại Việt Nam.

6.2. Giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với VPĐD

Các giải pháp có thể bao gồm: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, và nâng cao năng lực của cán bộ quản lý. Việc tăng cường quản lý nhà nước sẽ giúp đảm bảo hoạt động của văn phòng đại diện tuân thủ pháp luật và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.

6.3. Đề xuất chính sách hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại của VPĐD

Các chính sách hỗ trợ có thể bao gồm: Cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, và tạo điều kiện kết nối với các doanh nghiệp Việt Nam. Các chính sách hỗ trợ sẽ giúp văn phòng đại diện hoạt động hiệu quả hơn và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam.

27/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài: “Chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020” trình bày tại Đại hội Đảng lần thứ XI (từ ngày 12 tháng 01 năm 2011 đến ngày 19 tháng 01 năm 2011, tại Thủ đô Hà Nội ) nêu rõ: Việt Nam “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; Phải không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả; Phát triển lực lượng doanh nghiệp trong nước với nhiều thương hiệu mạnh, có sức cạnh tranh cao để làm chủ thị trường trong nước, mở rộng thị trường ngoài nước, góp phần bảo đảm độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Trong hội nhập quốc tế, phải luôn chủ động thích ứng với những thay đổi của tình hình, bảo đảm hiệu quả và lợi ích quốc gia”.1 Thật vậy, trong thời đại toàn cầu hóa, các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng cƣờng mở rộng mối quan hệ nhiều mặt trong quan hệ kinh tế, chính trị và văn hóa, tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đây cũng là một xu thế tất yếu khách quan của tiến trình phát triển kinh tế của xã hội loài ngƣời. Cùng với quá trình đó, các quốc gia đặc biệt chú trọng đến quá trình xúc tiến thƣơng mại ( sau đây gọi tắt là “XTTM”), nhằm giới thiệu các sản phẩm của quốc gia mình và khuếch trƣơng sản phẩm của quốc gia mình đến với các nền kinh tế khác, phát huy lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia.

1 Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam-Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020. Ngày truy cập: 20/4/2014.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=191&sub topic=8&leader_topic=989&id=BT531160686 2 Với lực lƣợng dân số dồi dào, đạt mốc 90 triệu ngƣời vào ngày 01 tháng 11 năm 20132, năng động, đứng thứ 14 trên thế giới và đứng thứ 3 Đông Nam Á về quy mô dân số, Việt Nam đang nổi lên nhƣ là một điểm sáng thu hút đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại của các quốc gia, của các tổ chức đầu tƣ nƣớc ngoài. Nhiều quốc gia phát triển, tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài nhìn thấy đựơc tiềm năng tiêu thụ hàng hóa của lực lƣợng dân số trẻ của Việt Nam, môi trƣờng chính trị ổn định, chính vì thế, họ đã vào Việt Nam để tìm kiếm các thông tin nhằm XTTM dƣới nhiều hình thức nhƣ đầu tƣ trực tiếp (FDI-Foreign Direct Investment) và đầu tƣ gián tiếp (FII-Foreign Indirect Investment). Trong đó, tỷ trọng nguồn vốn FDI đã tăng cao từ 21,6% thời kỳ năm 1996-2000 lên trên dưới 25% từ thời kỳ năm 2001-2005 đến nay.

Đặc biệt, trong năm 2013, lượng vốn đăng ký đạt 21,6 tỷ USD, tăng 54,5% so với năm 2012, vượt xa so với kế hoạch là 13 đến 14 tỷ USD, cao hơn mức cả năm từ năm 2010 đến nay; thực hiện đạt 11,5 tỷ USD, tăng 9,9%, vượt kế hoạch (10,5-11 tỷ USD) và đạt mức cao nhất từ trước đến nay.3 Trong các hình thức đầu tƣ nhƣ góp vốn thành lập công ty, thành lập liên doanh, thành lập chi nhánh, thành lập văn phòng đại diện, trong đó có hình thức thông qua Văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài. Văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động xúc tiến thương mại từ nước ngoài vào Việt Nam và ngược lại; hỗ trợ các doanh nghiệp của nước ngoài thâm nhập và hoạt động tại thị trường Việt Nam; nghiên cứu và cung cấp thông tin kinh tế, thương mại, thị trường cho các tổ chức doanh nghiệp nước ngoài; thúc đẩy các hoạt động ngoại thương, thương mại qua biên giới với Việt Nam; các hoạt động nhằm kết nối giao thương giữa các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp tại Việt Nam.4 2 Báo Thanh niên online. Dân số Việt Nam đạt 90 triệu người. Ngày truy cập: 20/4/2014.vn/pages/20131031/dan-so-viet-nam-dat-90-trieu-nguoi.aspx 3 Minh Đức, (2014), “Quy mô vốn đầu tư phát triển”,Thời báo kinh tế Việt Nam.

Kinh tế 2013-2014 Việt Nam và Thế Giới. 4 Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 100/2011/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28 tháng 10 năm 2011 quy định về thành lập và hoạt động văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài tại Việt Nam 3 Đáp ứng nhu cầu thực tiễn đó, các văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh lĩnh vực này đã đƣợc ban hành nhƣ: Luật Thƣơng mại năm 2005, Nghị định số 72/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành vào ngày 25 tháng 7 năm 2006 quy định chi tiết thi hành Luât Thƣơng mại về văn phòng đại diện, chi nhánh của thƣơng nhân nƣớc ngoài (sau đây gọi là Nghị định số 72/2006/NĐ- CP); Nghị định số 100/2011/NĐ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ quy định về thành lập và hoạt động của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là Nghị định số 100/2011/NĐ-CP); Thông tƣ số 06/2012/TT-BCT ngày 27 tháng 3 năm 2012 của Bộ Công Thƣơng quy định chi tiết trình tự, thủ tục cấp giấy phép thành lập và hoạt động văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là Thông tƣ số 06/2012/TT-BCT); Thông tƣ số 187/2012/TT-BTC ngày 07 tháng 11 năm 2012 của Bộ Tài Chính quy định chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí cấp giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài tại Việt Nam; Quyết định số 135/QĐ-XTTM của Cục Xúc tiến thƣơng mại ngày 26 tháng 7 năm 2012 ban hành Quy chế giải quyết hồ sơ cấp, cấp lại, sữa đổi, bổ sung, gia hạn, thu hồi giấy phép thành lập và chấm dứt hoạt động Văn phòng đại diện của Tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là Quyết định số 135/QĐ-XTTM); Quyết định số 963/QĐ-BCT của Bộ Công Thƣơng ban hành ngày 08 tháng 02 năm 2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Xúc tiến thƣơng mại (sau đây gọi là Quyết định số 963/QĐ-BCT). Cùng với các quy định pháp luật hiện hành, các văn bản này phần nào đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài, đồng thời tăng cƣờng kiểm soát và quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động của văn phòng đại diện (sau đây gọi tắt là “VPĐD”) của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài. Trƣớc năm 2011, VPĐD của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngòai đƣợc điều chỉnh chung với Văn phòng đại diện của thƣơng nhân nƣớc ngoài bởi Nghị định số 72/2006/NĐ-CP và Thông tƣ số 11/2006/TT-BTM của Bộ Thƣơng mại ban hành ngày 28 tháng 9 năm 2006 hƣớng dẫn thực hiện Nghị 4 định số 72/2006/NĐ-CP (sau đây gọi là Thông tƣ số 11/2006/TT-BTM).

Nhƣng kể từ năm 2011 thì Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2011/NĐ- CP quy định về thành lập và họat động văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nuớc ngòai tại Việt Nam; và Bộ Công Thƣơng ban hành Thông tƣ số 06/2012/TT-BCT quy định chi tiết trình tự, thủ tục cấp phép thành lập và họat động văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngòai tại Việt Nam. Tiếp theo sau đó, Cục Xúc tiến thƣơng mại ban hành Quyết định số 135/QĐ-XTTM về quy chế giải quyết hồ sơ: cấp, cấp lại, sữa đổi, bổ sung, gia hạn, thu hồi giấy phép thành lập và chấm dứt hoạt động Văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài tại Việt Nam. Nhƣ vậy, kể từ năm 2012, Văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nuớc ngòai và Văn phòng đại diện của thuơng nhân nứơc ngòai đã tách ra thành hai đối tuợng và đƣợc điều chỉnh bởi hai Nghị định khác nhau5. Điều này cũng tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý, cụ thể là Cục xúc tiến thƣơng mại đƣợc trao thẩm quyền trong việc cấp, điều chỉnh, cấp lại, gia hạn giấy phép của Văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài tại Việt Nam.6 Xuất phát từ thực tế trên, các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng đối với các hoạt động VPĐD của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài còn nhiều điểm bất cập, các văn bản pháp luật chƣa theo kịp yêu cầu thực tiễn do các văn bản pháp luật mới ban hành kể từ năm 2011, thời điểm sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2011/NĐ-CP.

Các văn bản pháp luật liên quan về văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài vẫn còn thiếu, ngay cả trong Luật Thƣơng mại năm 2005 (sau đây gọi tắt là “LTM 2005”), một văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong lĩnh vực thƣơng mại, vẫn chƣa có điều khoản nào nói về Văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài, mà chỉ đề cập đến Văn phòng đại diện của thƣơng 5 Nghị định số 72/2006/NĐ-CP và Nghị định số 100/2011/NĐ-CP 6 Điều 3 Nghị định số 100/2011/NĐ-CP và Điều 11 Thông tƣ số 06/2012/TT-BCT 5 nhân nƣớc ngoài.7 Vì vậy, nhằm để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của VPĐD của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài tại Việt Nam hoạt động có hiệu quả, theo ý kiến của tác giả của luận văn thì các cơ quan chức năng cần sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của VPĐD của tổ chức XTTM nƣớc ngoài tại Việt Nam. Thực tế này đang là rào cản lớn hạn chế hoạt động và phát huy tính năng động của các Văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài tại Việt Nam, cũng nhƣ gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc quản lý các hoạt động của Văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài. Chính vì vậy, trƣớc yêu cầu nhanh chóng hoàn thiện pháp luật liên quan đến hoạt động Văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài, nên tác giả chọn đề tài: “ Pháp luật về Văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thƣơng mại nƣớc ngoài tại Việt Nam” làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tế của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ