Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIẾN TRÚC CẢNH QUAN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm kiến trúc Kiến trúc là một ngành phản ánh với hai yếu tố trong tính chất nghệ thuật và khoa học. Thực hiện các hoạt động công việc về tổ chức sắp xếp không gian, lập hồ sơ thiết kế các công trình xây dựng.
Kiến trúc gắn với yêu cầu cần thiết xác định trong thiết kế. Qua đó đảm bảo các thống nhất đối với thể hiện của hoạt động sau được thực hiện. Kiến trúc mang đến các phân tích đối với tính chất của không gian. Đồng thời gắn với ý tưởng hình thành đối với thực hiện thiết kế các công trình xây dựng, đảm bảo ý đồ đưa ra được triển khai hiệu quả, các tính toán khoa học mang đến chính xác, chắc chắn và đảm bảo.
Bên cạnh giá trị thể hiện trong tính chất của nghệ thuật, giúp mang đến và khẳng định giá trị theo thời gian và không gian. Kiến trúc thường liên quan đến một số lĩnh vực ngành nghề khác, gắn với các yêu cầu thực hiện như: quy hoạch đô thị, thiết kế đô thị, thiết kế cảnh quan, quản lý đô thị, quản lý giám sát dự án… Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (Tập 2): “Kiến trúc là nghệ thuật thiết kế và xây dựng các công trình, tổ chức các môi trường không gian, phục vụ cho cuộc sống và hoạt động của con người”. Theo quy định của pháp luật1: “Kiến trúc là nghệ thuật và khoa học, kỹ thuật về tổ chức không gian, tạo lập môi trường sống bền vững đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội”. Như vậy, chúng ta có thể hiểu đơn giản rằng kiến trúc được tạo thành từ những yếu tố sau đây: - Công năng: là mục đích sử dụng và sử dụng như thế nào của một công trình kiến trúc.
- Vật chất - kỹ thuật: Yếu tố vật chất kỹ thuật trong kiến trúc chính là việc tính toán sử dụng nguyên vật liệu sao cho thật hợp lý, kết cấu và cấu tạo hình khối không gian, phương pháp thi công mà người kiến trúc sư triển khai. 1 Khoản 1, Điều 3, Luật Kiến trúc 2019. 11 - Nghệ thuật: Yếu tố này được thể hiện ở việc một công trình kiến trúc phải đảm bảo mỹ quan, có tác động tốt đến tâm lý và nhận thức thẩm mỹ của con người. Những yếu tố trên được liên hệ chặt chẽ với nhau, đồng thời tùy theo mục đích, tính chất đặc điểm của công trình mà có những yêu cầu cao thấp khác nhau.
Khái niệm kiến trúc cảnh quan Kiến trúc cảnh quan là nghệ thuật, lập kế hoạch phát triển, thiết kế, quản lý, bảo tồn và phục chế lại cảnh quan của khu vực và địa điểm xây dựng của con người. Phạm vi hoạt động của kiến trúc cảnh quan liên quan đến thiết kế kiến trúc, thiết kế tổng mặt bằng, phát triển bất động sản, bảo tồn và phục chế môi trường, thiết kế đô thị, quy hoạch đô thị, thiết kế các công viên và các khu vực nghỉ ngơi giải trí và bảo tồn di sản. Người hoạt động trong lĩnh vực kiến trúc cảnh quan được gọi là kiến trúc sư cảnh quan. Cảnh quan chính là phong cảnh được phản ánh qua các giác quan của mỗi người đồng thời được cảm nhận qua trình độ nhận thức nhất định mang tính chủ quan và trừu tượng.
Cảnh quan gắn liền với con người, môi trường và những sự vật xung quanh nó. Nhờ vậy có thể tạo nên một kiến trúc cảnh quan mang tính thẩm mỹ cao, bền vững để con người sinh sống, nghỉ ngơi. Kiến trúc cảnh quan là thiết kế, quy hoạch môi trường đô thị. Cảnh quan cũng chính là nghệ thuật thiết kế, lập kế hoạch phát triển quản lý, phục chế, bảo tồn cảnh quan khu vực, địa điểm xây dựng.
Nếu như cảnh quan là bức tranh tái hiện cảnh quan thiên nhiên hay địa hình. Vậy kiến trúc cảnh quan chính là việc sắp đặt, mô phỏng phong cảnh tự nhiên trên một vùng đất. Từ đó tạo ra khung cảnh hoàn mỹ, mang đến cho con người cảm giác thư thái, thoải mái. Hơn nữa có thể thiết lập, cải tạo môi trường sinh vật, bảo vệ môi trường và tổ chức nghệ thuật kiến trúc nhằm mang tới sự hài hòa của các yếu tố tạo thành kiến trúc cảnh quan.
Hiện nay, có 3 loại kiến trúc cảnh quan là: - Cảnh quan tự nhiên là quang cảnh thiên nhiên như: sinh vật, cảnh vật, cây xanh, địa hình hoàn toàn không chịu sự tác động của con người. - Cảnh quan nhân tạo do có sự tác động của con người, là kết quả của quá trình cải tạo, thay đổi của người khiến cho cảnh quan thiên nhiên bị biến đổi. - Cảnh quan vùng văn hóa: Cảnh quan điểm dân cư. Cảnh quan nghỉ ngơi - giải trí.
Cảnh quan vùng công nghiệp. Cảnh quan bảo tồn vườn quốc gia, chính là nơi 12 bảo tồn những quần thể thiên nhiên có giá trị. Cảnh quan đô thị đây chính là môi trường nhân tạo, thiết kế phức tạp nhất và cũng quan trọng của cảnh quan văn hóa. Kiến trúc cảnh quan là lĩnh vực có mối liên hệ mật thiết với môi trường nên phạm vi hoạt động của kiến trúc cảnh quan khá rộng.
Gần như nó bao trùm lên tất cả các lĩnh vực liên quan đến hoạt động xây dựng, thiết kế giữa con người và thiên nhiên. Cụ thể các lĩnh vực hoạt động của kiến trúc cảnh quan là: - Thiết kế môi trường sinh thái cho dự án, khu vực nhằm giảm thiểu sự tác động của môi trường thông qua cách tích hợp kiến trúc cảnh quan với những quy trình tự nhiên, mang tính bền vững cao. - Phát triển và giảm thiểu số bờ biển ở ngoài khơi, giảm tốc độ biển xâm lấn trái đất. - Thiết kế và tuân thủ nguyên tắc của sự phát triển bền vững.
- Thiết kế và tái tạo nước ngầm, hướng tới cơ sở hạ tầng xanh. - Thiết kế hạ tầng công cộng, cảnh quan công viên. - Hoạt động thiết kế cảnh quan giáo dục, các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ. - Kiến trúc cảnh quan vườn thực vật, đường xanh, bảo tồn thiên nhiên, vườn thực vật.
- Kiến trúc khu nhà ở, khu công nghiệp và sự phát triển của lĩnh vực thương mại. - Thiết kế kiến trúc các khu vui chơi giải trí, các hoạt động thể thao ngoài trời. - Tạo điểm nhấn cho đô thị, đường cao tốc, công trình giao thông, hành lang giao thông. - Thiết kế hệ sinh thái cho tất cả các công trình xây dựng từ vùng núi đến đồng bằng, từ trung du đến miền biển nhằm hạn chế thấp nhất các yếu tố hủy hoại môi trường, bảo vệ môi trường và thiên nhiên.
Khái niệm pháp luật về kiến trúc cảnh quan Cùng với sự phát triển của đất nước, các quan hệ xã hội phát sinh ngày càng nhiều hơn, đa dạng, phức tạp hơn, đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng pháp luật chặt chẽ, chính xác hơn, dẫn đến số lượng quy phạm pháp luật ngày một nhiều hơn và các ngành luật mới lần lượt được hình thành, phát triển như ngành luật lao động, ngành luật đất đai, ngành luật kinh tế, ngành luật môi trường. 13 Trong Khoa học pháp lý, ngành Luật Kiến trúc chưa được coi là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt nam. Tuy nhiên, dựa trên khái niệm các ngành luật nói chung có thể hiểu: “Pháp luật về kiến trúc cảnh quan là hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội trong lĩnh vực nghệ thuật thiết kế và xây dựng các công trình, tổ chức các môi trường không gian, phục vụ cho cuộc sống và họạt động của con người và những hoạt động liên quan đến thiết kế kiến trúc, thiết kế tổng mặt bằng, phát triển bất động sản, bảo tồn và phục chế môi trường, thiết kế đô thị, quy hoạch đô thị, thiết kế các công viên và các khu vực nghỉ ngơi giải trí và bảo tồn di sản”. Khái niệm hoạt động kiến trúc Kiến trúc đã và đang trở thành hoạt động được nhiều người quan tâm, nhất là khi mà nhu cầu về thẩm mỹ được chú trọng.
Kiến trúc trong giai đoạn hiện nay là một trong những hoạt động được xem trọng. Nhất là khi nhu cầu về thẩm mỹ của con người ngày càng tăng cao. Kiến trúc được biết đến là nghệ thuật và khoa học, kỹ thuật về tổ chức không gian, tạo lập môi trường sống bền vững đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội. Theo quy định của pháp luật hiện hành2 thì: Hoạt động kiến trúc gồm quản lý kiến trúc và hành nghề kiến trúc.
Trong đó: Quản lý kiến trúc là hoạt động đòi hỏi tính nguyên tắc cao. Đòi hỏi bảo đảm tính thống nhất trong việc quản lý từ không gian tổng thể đến không gian cụ thể của công trình kiến trúc. Không những vậy quản lý kiến trúc phải bảo đảm an toàn cho con người, công trình kiến trúc và khu vực tập trung dân cư trước tác động bất lợi do thiên nhiên hoặc con người gây ra… Hành nghề kiến trúc là hoạt động nghề nghiệp của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ kiến trúc. Khái niệm về thiết kế kiến trúc “Kiến trúc là nghệ thuật tổ chức môi trường sống, là thế giới vật chất bao quanh con người, là không gian có tổ chức đạo diễn quá trình sống, là nghệ thuật làm biến đổi môi trường tự nhiên thành môi trường lý tưởng cho con người, bằng cách sử dụng các công trình xây dựng, công trình kiến trúc sao cho hài hòa với cảnh quan thiên nhiên và đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng cao của con người” (KTS.
Platonov - Tổng thư ký Hội Kiến trúc sư Liên Xô). 2 Khoản 2, Điều 3, Luật Kiến trúc 2019. 14 “Kiến trúc là xây dựng nhà ở, dinh thự, cung điện, tàu thủy, xe lửa, máy bay., trang thiết bị gia đình, mậu dịch, kỹ nghệ., nghệ thuật ấn loát, sách báo, tạp chí. “Mục đích cuối cùng của Kiến trúc là tạo ra những không gian để phục vụ xã hội và để đạt được điều đó, người kiến trúc sư phải hiểu hoạt động của con người từ quan điểm lịch sử, sinh thái và xu hướng phát triển” (KTS.
Theo quy định của pháp luật3: “Thiết kế kiến trúc là việc lập phương án kiến trúc, thể hiện ý tưởng kiến trúc, giải pháp kỹ thuật về kiến trúc trong hồ sơ thiết kế quy hoạch, xây dựng, thiết kế nội thất, ngoại thất và kiến trúc cảnh quan”. Nói một cách khác thì thiết kế kiến trúc là sự pha trộn các yếu tố về khoa học, thẩm mỹ, nghệ thuật để tạo nên một công trình hoàn thiện.