Luận văn tốt nghiệp tmu pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hi m xe cơ giới thực tiễn thực hiện tại tổng công ty cổ phần ảo hi m sài gòn hà

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp tmu pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hi m xe cơ giới thực tiễn, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại học Thương Mại

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp
66
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VẤN ĐỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI

1.1. Những lý luận cơ bản về vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới

1.1.1. Khái quát về bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm

1.1.1.1. Khái niệm bảo hiểm
1.1.1.2. Các nguyên tắc bảo hiểm
1.1.1.3. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm
1.1.1.4. Hình thức hợp đồng bảo hiểm
1.1.1.5. Tính chất của hợp đồng bảo hiểm
1.1.1.6. Các loại hợp đồng bảo hiểm

1.1.2. Những vấn đề cơ bản về xe cơ giới

1.1.2.1. Khái niệm xe cơ giới
1.1.2.2. Một số quy định của pháp luật về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới

1.1.3. Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm vật chất xe cơ giới

1.1.3.1. Khái niệm bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.1.3.2. Phân loại bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.1.3.3. Đối tượng bảo hiểm
1.1.3.4. Phạm vi bảo hiểm
1.1.3.5. Vai trò của bảo hiểm vật chất xe cơ giới

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM SÀI GÒN – HÀ NỘI (BSH)

2.1. Pháp luật điều chỉnh hành vi giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm

2.1.1. Pháp luật điều chỉnh hành vi giao kết hợp đồng bảo hiểm

2.1.1.1. Chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm
2.1.1.2. Những quy định chi tiết về hợp đồng bảo hiểm

2.1.2. Pháp luật điều chỉnh hành vi thực hiện hợp đồng bảo hiểm

2.1.2.1. Về quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm
2.1.2.2. Về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm và vấn đề xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm
2.1.2.3. Trách nhiệm cung cấp thông tin trong việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm
2.1.2.4. Về vấn đề chi trả tiền bảo hiểm

2.2. Những vấn đề cần lưu ý trong quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới

2.2.1. Đối tượng bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm vật chất xe cơ giới

2.2.1.1. Đối tượng bảo hiểm
2.2.1.2. Phạm vi bảo hiểm
2.2.1.3. Số tiền bảo hiểm, giá trị bảo hiểm và phí bảo hiểm
2.2.1.3.1. Số tiền bảo hiểm
2.2.1.3.2. Giá trị bảo hiểm
2.2.1.3.3. Phí bảo hiểm

2.2.2. Những vấn đề cần lưu ý trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới

2.2.2.1. Xảy ra tai nạn
2.2.2.2. Giám định – bồi thường tổn thất trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới
2.2.2.2.1. Giám định viên
2.2.2.2.2. Nguyên tắc giám định tổn thất
2.2.2.2.3. Nguyên tắc bồi thường tổn thất
2.2.2.2.4. Quy trình giám định tổn thất
2.2.2.2.5. Quy trình bồi thường tổn thất
2.2.2.3. Mục tiêu và vai trò của công tác giám định bồi thường
2.2.2.3.1. Mục tiêu của công tác giám định – bồi thường
2.2.2.3.2. Vai trò của công tác giám định bồi thường
2.2.2.4. Một số quy định của BSH về việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới
2.2.2.4.1. Về bảo hiểm vật chất xe máy
2.2.2.4.2. Về bảo hiểm vật chất xe ôtô

2.3. Thực trạng của hoạt động bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại thị trường Việt Nam hiện nay thông qua nghiên cứu

2.3.1. Tình hình chung
2.3.2. Về công tác đề phòng – hạn chế tổn thất
2.3.3. Về công tác giám định – bồi thường tổn thất
2.3.4. Đánh giá thực trạng
2.3.4.1. Nhược điểm

2.4. Thực trạng của hoạt động bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Sài Gòn – Hà Nội BSH

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI

3.1. Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới

3.2. Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới ở BSH

3.2.1. Công tác khai thác

3.2.2. Công tác giám định – bồi thường

3.3. Một số kiến nghị khác

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Pháp Luật Về Hợp Đồng Bảo Hiểm Xe Cơ Giới

Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nó không chỉ bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm mà còn đảm bảo sự công bằng trong giao dịch. Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới giúp giảm thiểu rủi ro cho chủ phương tiện khi xảy ra tai nạn hoặc tổn thất. Đặc biệt, Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Sài Gòn – Hà Nội (BSH) đã có những đóng góp đáng kể trong việc thực hiện các quy định này.

1.1. Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Hợp Đồng Bảo Hiểm Xe Cơ Giới

Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm. Đặc điểm chính của hợp đồng này bao gồm tính chất bồi thường và nguyên tắc trung thực tuyệt đối. Điều này đảm bảo rằng cả hai bên đều có trách nhiệm và quyền lợi rõ ràng.

1.2. Các Quy Định Pháp Luật Liên Quan Đến Hợp Đồng Bảo Hiểm

Các quy định pháp luật về hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới được quy định trong Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành. Những quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và đảm bảo tính minh bạch trong giao dịch.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Thực Hiện Hợp Đồng Bảo Hiểm Xe Cơ Giới

Mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng về hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức trong thực tiễn. Các vấn đề này bao gồm việc thiếu hiểu biết của người dân về quyền lợi và nghĩa vụ trong hợp đồng, cũng như sự phức tạp trong quy trình bồi thường. Điều này dẫn đến nhiều tranh chấp và khó khăn trong việc thực hiện hợp đồng.

2.1. Thiếu Hiểu Biết Về Quyền Lợi Của Người Được Bảo Hiểm

Nhiều người tham gia bảo hiểm không nắm rõ quyền lợi của mình, dẫn đến việc không yêu cầu bồi thường khi xảy ra sự cố. Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của họ và làm giảm hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm.

2.2. Khó Khăn Trong Quy Trình Bồi Thường

Quy trình bồi thường thường phức tạp và mất thời gian, khiến người tham gia bảo hiểm cảm thấy không hài lòng. Việc thiếu thông tin và hướng dẫn rõ ràng từ các công ty bảo hiểm cũng góp phần vào vấn đề này.

III. Phương Pháp Giải Quyết Tranh Chấp Trong Hợp Đồng Bảo Hiểm Xe Cơ Giới

Để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới, cần có những phương pháp hiệu quả. Việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành và các phương thức hòa giải sẽ giúp giảm thiểu xung đột và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. BSH đã triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp.

3.1. Hòa Giải Tranh Chấp Giữa Các Bên

Hòa giải là một phương pháp hiệu quả để giải quyết tranh chấp mà không cần phải đưa ra tòa án. BSH đã áp dụng phương pháp này để giúp các bên tìm ra giải pháp hợp lý và nhanh chóng.

3.2. Sử Dụng Tòa Án Để Giải Quyết Tranh Chấp

Khi hòa giải không thành công, các bên có thể đưa vụ việc ra tòa án. Việc này cần tuân thủ các quy định pháp luật và đảm bảo quyền lợi của các bên được bảo vệ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Hợp Đồng Bảo Hiểm Xe Cơ Giới Tại BSH

Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Sài Gòn – Hà Nội (BSH) đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới. Các chương trình đào tạo cho nhân viên và khách hàng về quyền lợi và nghĩa vụ trong hợp đồng đã được triển khai. Điều này giúp nâng cao nhận thức và giảm thiểu tranh chấp.

4.1. Chương Trình Đào Tạo Nhân Viên Về Bảo Hiểm

BSH đã tổ chức nhiều khóa đào tạo cho nhân viên về quy trình và quy định liên quan đến hợp đồng bảo hiểm. Điều này giúp nhân viên nắm rõ thông tin và tư vấn chính xác cho khách hàng.

4.2. Tăng Cường Truyền Thông Đến Khách Hàng

BSH đã triển khai các chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của khách hàng về quyền lợi và nghĩa vụ trong hợp đồng bảo hiểm. Điều này giúp khách hàng hiểu rõ hơn về sản phẩm và dịch vụ mà họ đang sử dụng.

V. Kết Luận Về Pháp Luật Về Hợp Đồng Bảo Hiểm Xe Cơ Giới

Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Tuy nhiên, cần có những cải cách và nâng cao nhận thức của người dân để đảm bảo hiệu quả thực hiện. BSH cần tiếp tục phát triển các chương trình đào tạo và truyền thông để nâng cao chất lượng dịch vụ.

5.1. Đề Xuất Cải Cách Pháp Luật Về Bảo Hiểm

Cần có những cải cách trong quy định pháp luật để đơn giản hóa quy trình và nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Điều này sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm tốt hơn.

5.2. Tương Lai Của Hợp Đồng Bảo Hiểm Xe Cơ Giới

Với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu ngày càng cao của người dân, hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới sẽ tiếp tục phát triển. Các công ty bảo hiểm cần nắm bắt xu hướng này để cải thiện dịch vụ và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

22/06/2025
Luận văn tốt nghiệp tmu pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hi m xe cơ giới thực tiễn thực hiện tại tổng công ty cổ phần ảo hi m sài gòn hà

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VẤN ĐỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI 1. Những lý luận cơ bản về vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới 1. Khái quát về bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm 1. Khái niệm bảo hiểm Trên thực tế có nhiều khái niệm về bảo hiểm, tùy thuộc vào quan niệm của mỗi quốc gia, từng lĩnh vực mà có những khái niệm khác nhau.

- Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh: Bảo hiểm là sự thỏa thuận qua đó một bên (người bảo hiểm) cam kết sẽ thanh toán cho bên kia (người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu có sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm. Trách nhiệm thanh toán những tổn thất này được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm sang người bảo hiểm. Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, người bảo hiểm đòi người được bảo hiểm một khoản tiền gồi là phí bảo hiểm. - Theo Ủy Ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa Kỳ: Bảo hiểm là việc chuyển giao những rủi ro do các tổn thất bất ngờ và ngẫu nhiên gây ra từ người được bảo hiểm sang cho người bảo hiểm khi họ cam kết bồi thường cho những tổn thất này; cung cấp các quyền lợi bằng tiền khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro cho người được bảo hiểm.

- Tại Châu Á: Bảo hiểm là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một người hay một số ít người cho nhiều người có cùng khả năng chịu rủi ro nào đó thông qua việc tổ chức ra một quỹ tài chính tập trung huy động từ các cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm, để bồi thường hoặc bồi đắp những tổn thất do rủi ro gây ra. - Tại Việt Nam: Bảo hiểm là một hệ thống các biện pháp kinh tế nhằm tổ chức các quỹ bảo hiểm thu hút được các đơn vị và cá nhân tham gia bảo hiểm để bù đắp những tổn thất, thiệt hại do thiên tai, tai nạn bất ngờ xảy ra góp phần đảm bảo cho quá trình tái sản xuất có thể diễn ra thường xuyên liên tục, đồng thời góp phần ổn định đời sống của mọi thành viên trong xã hội. Hoặc cũng có thể được hiểu: Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thỏa thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. Thực ra bảo hiểm là sự phân tán rủi ro, chia nhỏ tổn thất của một hoặc một số người cho nhiều người cùng gánh chịu.

Vì vậy, người mua bào hiểm có lợi vì phải chi trả một số ít phí bảo hiểm, nhưng nếu tổn thất do rủi ro được bảo hiểm xảy ra sẽ được người bảo hiểm bồi thường với số tiền bảo hiểm. Các nguyên tắc bảo hiểm Thị trường bảo hiểm hoạt động bảo hiểm dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau: Bảo hiểm một rủi ro có thể xảy ra, không bảo hiểm một sự chắc chắn xảy ra (Fortuity not certainly): Bảo hiểm các rủi ro có thể xảy ra chứ không phải chắc chắn sẽ xảy ra vì nếu rủi ro chắc chắn xảy ra sẽ không ai dám bảo hiểm, cũng như chì bồi thường những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra chứ không phải bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra. - Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (Utmost good faith): Người bảo hiểm và người mua bảo hiểm phải tuyệt đối trung thực, không lừa dối nhau. Người bảo hiểm phải công khai cho biết các điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, thời hạn, phí bảo hiểm… cho người mua bảo hiểm biết, không nhận bảo hiểm và thu phí bảo hiểm khi biết dối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn.

Người mua bảo hiểm phải thông báo đầy đủ chi tiết về đối tượng bảo hiểm, không che giấu và phải khai báo bổ sung khi đối tượng bảo hiểm có sự thay đổi về rủi ro; không được mua bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đã bị tổn thất. - Nguyên tắc lợi ích bảo hiểm (Insurable Interest): Lợi ích bảo hiểm là quyền lợi liên quan, gắn liền với hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không của đối tượng bảo hiểm. Người có lợi ích bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro. Có lợi ích bảo hiểm mới được ký hợp đồng bảo hiểm và khi xảy ra tổn thất, người mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm rồi mới được bồi thường.

- Nguyên tắc bồi thường (Indemnity): Người bảo hiểm có nghĩa vụ bồi thường đúng, đủ để người mua bảo hiểm có được trị giá đúng của đối tượng bảo hiểm như đã có trước khi tổn thất xảy ra. - Nguyên tắc thế quyền (Subrogation): Người bảo hiểm sau khi bồi thường, có quyền thay mặt cho người mua bảo hiểm để khiếu nại, đòi người thứ ba bồi thường lại cho mình tổn thất mà người đó đã gây ra. Người mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp các chứng từ cần thiết cho người bảo hiểm như các biên bản, thư từ… để người bảo hiểm có cơ sở để khiếu nại, đòi bên thứ ba. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm Theo Điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 của Việt Nam: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngưỏi thụ hưởng hoặc bồi thưỏng cho ngưỏi được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.

Theo Điều 224, Bộ Luật hàng hải Việt Nam 2005 khái niệm về hợp đồng bảo hiểm hàng hải như sau: “Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng bảo hiểm các rủi 5 Luan van ro hàng hải, theo đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất hàng hải thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo cách thức và điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng”. Còn theo Điều 567 Bộ luật Dân sự 2005, hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Hình thức hợp đồng bảo hiểm Cả Bộ luật Dân sự, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật Hàng hải đều quy định, hợp đồng bảo hiểm phải lập bằng văn bản. Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định.

Tính chất của hợp đồng bảo hiểm - Tất cả các hợp đồng bảo hiểm đều là hợp đồng bồi thường. Tính chất này của hợp đồng bảo hiểm được mọi người biết đến nhiều nhất, ai cũng ý thức được là khi ký kết hợp đồng bảo hiểm thì sẽ được bồi thường tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra. - Hợp đồng bảo hiểm là một loại hợp đồng tín nhiệm. Thực vậy, hợp đồng bảo hiểm được quan niệm là một hợp đồng của lòng trung thực (Contract of Good Faith) vì hai bên ký kết đã cùng thỏa thuận và thi hành các điều khoản của hợp đồng.

Người được bảo hiểm phải khai báo đầy đủ, trung thực, không che giấu, không có ý xấu làm thiệt hại cho người bảo hiểm và trái lại, người bảo hiểm có nhiệm vụ đảm bảo giải quyết bổi thường thiệt hại nhanh và đúng mức, nếu không hợp đồng có thể bị huy bỏ. - Hợp đồng bảo hiểm có thể chuyển nhượng được. Bên mua bảo hiểm có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm có thể chuyển nhượng từ người đứng tên trong hợp đồng cho một người khác được hưởng quyền lợi của hợp dồng bảo hiểm.

Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận về việc chuyển nhượng đó, trừ trường hợp việc chuyển nhượng được thực hiện theo tập quán quốc tế. Các loại hợp đồng bảo hiểm a. Hợp đồng bảo hiềm con người: Đối tượng của hợp đổng bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng và sức khỏe, tai nạn con người. Bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho những người sau đây: - Bản thân bên mua bảo hiểm - Vợ, chồng, con, cha, mẹ cùa bên mua bảo hiểm 6 Luan van - Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng - Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.

Số tiền bảo hiểm hoặc phương thức xác định số tiền bảo hiểm được bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thoa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiếm tài sản: Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản là tài sản, bao gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản. Số tiền bảo hiểm là số tiền bên mua bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm cho số tiền đó. Hợp đồng bảo hiểm tài sản có hai loại: - Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị - Hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị c.

Hợp đổng bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối vói người thứ ba theo quy định của pháp luật. Số tiền bảo hiểm: là số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải: Hợp đồng bảo hiểm hàng hải được quy định tại Điều 225 Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam 2005 như sau: Đối tượng bảo hiểm hàng hải có thể là bất cứ quyền lợi vật chất nào liên quan đến các hoạt động hàng hải mà có thể quy ra tiền, bao gồm: tàu biển, hàng hoa, tiền cước vận chuyển, tiền công vận chuyển hành khách, tiền thuê tàu, tiền thuê – mua tàu, tiền lãi ước tính cùa hàng hoa, các khoản hoa hổng, chi phí tổn thất chung, trách nhiệm dân sự và các khoản tiền được đảm bảo bằng tàu, hàng hoá hoặc tiền cước vận chuyển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ