Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 1. Khái niệm về thu hồi đất Vấn đề sở hữu là vấn đề gốc để giải quyết các mối quan hệ pháp luật đất đai tiếp theo. Đối với những quốc gia công nhận quyền tư hữu về đất đai, khi nhà nước cần một diện tích đất cho mục đích công ích thì đa phần sẽ tiến hành trưng mua và người có quyền tư hữu với thửa đất đó là người bán tài sản thuộc sở hữu của mình. Đối với Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.Với vai trò đại diện chủ sở hữu thì Nhà nước có quyền giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.
Vì vậy, khi Nhà nước sử dụng và mục đích công ích, Nhà nước sẽ thu hồi đất đã giao, đã cho thuê và có bồi thường, hỗ trợ, TĐC. Theo Luật Đất đai 2013, Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. Về thẩm quyền thu hồi đất, theo Điều 66, Luật Đất đai năm 2013 quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: Thu hồi đất đối với hộ 8 gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất. Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Theo Từ điển Tiếng Việt, hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào; còn Nhà nước hỗ trợ khi thu hồi đất được thể hiện cụ thể thông qua các chính sách nhằm thể hiện sự nhân đạo, biểu hiện bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân của nước ta nhằm hỗ trợ, chia sẻ khó khăn của người dân bị thu hồi đất, giúp đỡ một phần nào rủi ro mà họ phải gánh chịu, đồng thời giúp cho người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định đời sống, sản xuất và kinh doanh. Theo Nghị định số 22/1998/NĐ-CP, là văn bản đầu tiên quy định chi tiết về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, các khoản hỗ trợ bao gồm: Chi phí đào tạo nghề, người sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước… Đến Luật Đất đai 2003, khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đã được luật hóa, theo đó, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới. Hiện nay, theo khoản 14, Điều 3, Luật Đất đai 2013 thì hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển.
Như vậy, khái niệm hỗ trợ có bản chất là giúp đỡ, mang tính xã hội (khác với bồi thường mang tính kinh tế). So với trước đây, thì hình thức hỗ trợ có những điểm khác nhau cơ bản như: thứ nhất, về tên gọi, nếu trước đấy gọi là hỗ trợ, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm thì nay được đổi thành hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm. Thứ hai, mở rộng đối 9 tượng nhận hỗ trợ, đối với hình thức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, có thêm đối tượng nhận hỗ trợ là người có đất thu hồi là đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà phải chuyển chổ ở khi Nhà nước thu hồi đất. Thứ ba, chi phí di chuyển trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất đã quy định thành khoản bồi thường chứ không còn là hỗ trợ như trước đây.
Thứ tư, các văn bản hiện hành không còn quy định khoản hỗ trợ đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất vườn, ao không được công nhận là đất ở trong các khoản hỗ trợ của Nhà nước khi thu hồi đất vì các nội dung thể hiện tính chất hoạt động bồi thường về đất. Khái niệm tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Hiện nay, khái niệm tái định cư chưa được luật hóa. Có thể hiểu, TĐC chỉ những ảnh hưởng tác động đến đời sống của người dân do bị mất tài sản, nguồn thu nhập trong quá trình phát triển dự án; bất kể có phải di chuyển hay không và các chương trình nhằm khôi phục cuộc sống của họ; nhà ở TĐC là nhà được hỗ trợ cho những người bị thu hồi đất ở. Tuy nhiên, không phải gia đình nào cũng được hỗ trợ nhà ở TĐC, chỉ có một số trường hợp mới được hưởng chế độ này, cụ thể phân loại TĐC như sau: - Dựa vào hình thức TĐC được phân ra thành 3 loại như sau: Di dân vào vùng được đô thị hóa; TĐC tại chỗ khi áp dụng triển khai các dự án chỉnh trang khu dân cư; chuyển dịch nội ngoại thành; - Dựa vào nguyện vọng của người dân: TĐC tự phát là việc mua bán, xây dựng trái phép không đúng theo quy định; TĐC tự giác là việc TĐC thể hiện các dự án, người dân tự giác chấp hành kế hoạch và phương thức TĐC, ngay cả việc xây dựng lên chỗ ở mới các dự án phát triển nhà, cưỡng bức TĐC; - Dựa vào tính chất: TĐC bắt buộc và TĐC tự nguyện.
Nhà ở TĐC là dùng để cấp cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện TĐC 10 khi bị Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật, theo đó điều kiện để được TĐC quy định tại Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP như sau: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai nếu thuộc trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư; nếu hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp nêu trên mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư thì được Nhà nước bồi thường bằng tiền. Các nhóm TĐC được chia thành 03 nhóm: Nhóm thuộc diện TĐC; nhóm thuộc diện hỗ trợ TĐC; nhóm thuộc diện xét mua nền TĐC. - Nhóm thuộc diện TĐC được áp dụng khi Hộ gia đình, cá nhân có nhà ở hợp pháp mà phải di chuyển chỗ ở và không còn chỗ ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất ở bị thu hồi. Việc bố trí TĐC thực hiện bằng việc giao đất ở, nhà ở hoặc bằng tiền; - Nhóm thuộc diện hỗ trợ TĐC áp dụng hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận đất ở, nhà ở TĐC mà số tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất TĐC tối thiểu, khoản hỗ trợ chênh lệch giữa giá trị suất TĐC tối thiểu và số tiền được bồi thường về đất gọi là hỗ trợ TĐC; - Nhóm thuộc diện mua nền đất TĐC, thứ nhất, khi bị thu hồi đất gắn với nhà ở mà không đủ điều kiện bồi thường về đất ở và phải di chuyển chỗ ở và 11 không còn chỗ ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất ở bị thu hồi thì hộ gia đình, cá nhân đó được xét mua một nền đất TĐC với diện tích tối thiểu; thứ hai, trường hợp hộ gia đình nêu trên có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên cùng một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện tách thành từng hộ gia đình riêng hoặc nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một thửa đất ở thu hồi thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở TĐC và tình hình thực tế ở địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở TĐC cho từng hộ gia đình.
Mục đích, ý nghĩa của việc hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Thu hồi đất không chỉ làm chấm dứt mối quan hệ pháp luật đất đai (làm chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất) mà còn liên quan đến lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan: Lợi ích của người bị thu hồi đất; lợi ích của Nhà nước, của xã hội; lợi ích của người hưởng lợi từ việc thu hồi đất (các nhà đầu tư, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân…). Do vậy trên thực tế việc giải quyết hậu quả của việc thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp. Việc giải quyết tốt vấn đề hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất sẽ mang lại ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện. Trong hơn 20 năm kể từ ngày thành lập, thành phố Đà Nẵng đã triển khai gần 836 dự án, việc thu hồi đất để thực hiện các dự án này đã ảnh hưởng đến gần 150 nghìn hộ giải tỏa.
Thực tế cho thấy, do mất đất sản xuất, mất nơi định cư đã làm cho người bị thu hồi đất không có nghề nghiệp ổn định, mất đi nơi sản xuất kinh doanh sau khi bị thu hồi đất.