CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ LOGISTIC VÀ PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS 1.1 Lý luận chung về dịch vụ logistics và pháp luật dịch vụ logistics 1. Khái niệm dịch vụ logistics Định nghĩa dịch vụ logistics Logistics thủa sơ khai được tiếp cận dưới hình thức là một thuật ngữ chuyên ngành có nguồn gốc từ Hy Lạp, trong Tiếng Việt logistics có nghĩa gần nhất được hiểu là “hậu cần”. Logistics bắt đầu xuất hiện trong các cuộc chiến tranh giữa đế chế Hy Lạp và La Mã, xuất phát từ sự cần thiết trong quân sự về việc cung cấp cho quân đội các nhu yếu phẩm: lương thực, thuốc men, vũ khí… ra tiền tuyến phục vụ chiến tranh. Quá trình này được vận chuyển một cách có quy trình quản lý chặt chẽ, có sự liên kết, ràng buộc nhất định nhằm tránh sự phá hoại của đối thủ.
Bên cạnh đó, hoạt động “hậu cần” được cho là có ý nghĩa một mất một còn đối với cục diện chung của cuộc chiến tranh lúc bấy giờ, bởi lẽ “có thực mới vực được đạo” hay không đội quân nào cũng có thể “tay không giết giặc”. Vì lẽ đó mà đôi bên chiến tranh luôn rất cẩn trọng trong việc bảo vệ nguồn cung ứng của mình và ra sức nghĩ ra các biện pháp để phá hủy, ngăn chặn nguồn cung ứng của đối thủ. Xuất phát từ cơ sở đó, sau này xã hội đã dần hình thành nên một hệ thống ngày càng chuyên nghiệp hơn, bài bản hơn được gọi là quản lý dịch vụ logistics. Trong hoạt động kinh doanh, sự xuất hiện của khái niệm logistics có từ những năm 50 của thế kỷ XX.
Đây là giai đoạn toàn cầu hóa cũng bắt đầu xuất hiện và có dấu hiệu phát triển mạnh mẽ. Chính vì vậy, để phục vụ cho toàn cầu hóa, thuật ngữ logistics ra đời. Trong giai đoạn đó, theo một cách dễ hiểu, “logistics là một phần của chuỗi cung ứng góp phần làm gia tăng việc cung cấp, vận chuyển trong một thế giới đang diễn ra toàn cầu hóa mạnh mẽ nhằm đảm bảo hàng hóa được giao đến tay người tiêu thụ cuối cùng”. Thuật ngữ logistics dần manh nha, xuất hiện và trở nên phổ biến thông qua chính những hoạt động của nó trên thực tế và qua những nghiên cứu.
Vào năm 1991, Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (LAC – The US. Logistics Administration Council) đã đưa ra khái niệm: “Logistics là là trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển 10 và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng thành phẩm và những thông tin có liên quan, từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mực đích thỏa mãn yêu cầu của nhà tiêu dùng”. Theo từ điển Oxford, logistics có thể được biết đến là một phân ngành của ngành khoa học quân sự, liên quan đến các hoạt động như thu mua, bảo dưỡng và vận chuyển vật chất, nhân sự và phương tiện. Cách hiểu này được cho là bắt nguồn từ thuật ngữ “logistique” trong tiếng Pháp, là thuật ngữ được sử dụng trong tài liệu “Nghệ thuật chiến tranh” của Baron Henri – một vị tướng quân vĩ đại dưới thời trị vì của Napoleon.
(La Trobe, 2021) Năm 1998, Martin Chistopher, tác giả của cuốn sách “Logistics & Supply Chain Management” đã đưa ra định nghĩa logistics như sau: “Logistics là quá trình quản lý chiến lược mua sắm, vận chuyển và lưu trữ nguyên liệu, các bộ phận và hàng tồn kho thành phẩm cùng luồng thông tin có liên quan thông qua tiến trình tổ chức và thực hiện các kênh tiếp thị”. Năm 2001, Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng Hòa Kỳ (CSCMP – Council of Supply Chain Management Professionals) đã cho ra một khái niệm tương đối đầy đủ và chính xác về logistics. Theo đó, “Logistic được định nghĩa là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng”. Khái niệm logistics theo quy định của pháp luật Việt Nam được quy định cụ thể tại Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định 163/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ logistics của Chính phủ ngày 30/12/2017.
Theo Điều 233 Luật Thương mại năm 2005 quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kí mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Đây là lần thứ hai pháp luật Việt Nam ghi nhận bản chất của dịch vụ logistics. Trước đó tại Luật Thương mại năm 1997 đã có quy định về 11 dịch vụ giao nhận hàng hóa tại Điều 163 như sau: “Dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng)”. Dù không nêu rõ khái niệm logistics song bản chất của “dịch vụ giao nhận hàng hóa” tương đối giống với nội dung của khái niệm logistics theo quy định của Luật Thương mại năm 2005.
Từ những quan điểm và định nghĩa trên có thể thấy, các tổ chức và nhà làm luật đang nhìn nhận khái niệm về dịch vụ logistics theo 2 quan điểm. Quan điểm thứ nhất là khái niệm logistics theo nghĩa hẹp, trong đó phải kể đến khái niệm được đề cập tại Luật Thương mại 2005 của Việt Nam. Theo đó, logistics được coi là có nghĩa gần với “hoạt động giao nhận hàng hóa”. Việc xây dựng khái niệm bằng cách liệt kê một loạt các hoạt động không còn xa lạ trong hệ thống pháp luật Việt Nam song cách xây dựng khái niệm như trên không mang tính khái quát cao, đồng thời rất dễ bỏ sót nội dung khái niệm.
Bên cạnh đó, Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam vẫn bỏ ngỏ quy định “các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa” cho công tác quản lý trong tương lai một mặt tạo ra cơ chế mở, dễ tiếp cận với logistics, mặt khác cũng tạo ra những nghi vấn về việc xác định như thế nào là dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa, làm thế nào để xác định được đó là dịch vụ liên quan đến logistics hay cứ phải đợi luật quy định. Bỡi lẽ, các quy định của luật đều được xây dựng trên cơ sở thực tiễn, gắn liền với thực tiễn nên rất có thể những hoạt động đó đã xuất hiện trên thực tiễn nhưng pháp luật chưa quy định. Vậy trong thời điểm pháp luật chưa quy định đó thì có cơ chế nào để bảo vệ cho hoạt động đó và chứng minh đó là hoạt động của logistics. Đồng thời, theo quan điểm này thì “người cung cấp dịch vụ logistics” không có quá nhiều sự khác biệt so với “người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương”.
Quan điểm còn lại tiếp cận khái niệm logistics theo nghĩa rộng. Theo đó, một nhà cung ứng dịch vụ logistics chuyên nghiệp sẽ có thể thực hiện tất cả các công đoạn trong quá trình vận chuyển hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng qua rất nhiều các hoạt động đa dạng: bốc dỡ, sắp xếp, kê khai, giao hàng… Nhìn chung, khi tiếp cận từ góc độ này, logistics được chia ra làm hai giai đoạn cụ thể, một là quá trình nhập nguyên vật 12 liệu đầu vào và hai là hàng hóa được cung ứng đến tay người tiêu dùng (Vương Thị Bích Ngà, 2021). Có thể thấy, quan điểm này phân định một cách rõ ràng công việc, vai trò giữa “một bên là nhà cung cấp các dịch vụ đơn lẻ với bên còn lại là nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, cũng chính là người đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng” (Tào Thị Hải, 2020). Như vậy, thông qua rất nhiều quan điểm, nhận định về khái niệm dịch vụ logistics, nhóm cũng có sự đồng tình nhất định với từng quan điểm trên và rút ra một khái niệm theo ý hiểu của nhóm.
Theo đó, “dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, đó có thể là dịch vụ đơn lẻ hoặc là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hóa: làm thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, đóng gói, lưu kho, lưu bãi… nhằm đưa thành phẩm tới tay khách hàng hoặc các dịch vụ khách có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng nhằm mục đích sinh lời”. Bên cạnh đó, hiện nay khoa học kỹ thuật đang đi trước đón đầu, tất cả các ngành nghề đều đã đang và sẽ hướng đến thực hiện thông qua mạng điện tử, và logistics cũng không ngoại lệ. Các hoạt động logistics trong lĩnh vực thương mại điện tử được gọi là E-logistics. Có thể hiểu, “E-logistics là việc tiến hành một, một số hoặc toàn bộ hoạt động logistics thông qua hoạt động thương mại điện tử”.
Hiện nay, xu hướng này đã được áp dụng phổ biến trên thế giới, song chưa có một quy định cụ thể nào đề cập về khái niệm E-logistics là gì. Tất cả những gì được biết đến về E-logistics đều dựa trên những đặc điểm trên thực tế của nó, chưa có văn bản pháp lý nào quy định vấn đề này. Rất nhiều quốc gia đã ứng dụng E-logistics thành công. Tiêu biểu như Trung Quốc đã xây xây dựng thành công mạng lưới E-logistics thông qua hệ thống điện tử phát triển mạnh với sự ra đời của hệ thống Cảng tự động (Automated Sea Port) và hệ thống Bắc Đẩu (Beidou Navigation System – BDS) hiện đang được áp dụng ở Thanh Đảo và Thượng Hải (Báo cáo Logistics 2022, 2022).
Hay tại Singapore cũng đang bắt đầu đầu tư xây dựng các cảng tự động. Tính đến hết năm 2022, hệ thống siêu càng Tuas của Singapore đã hoàn thành giai đoạn, hoàn tất xây dựng với diện tích 414 ha, gồm 21 cầu cảng nước sâu có thể tiếp nhận và xử lý hơn 20 triệu TEU mỗi năm. Dự kiến kế hoạch phát triển cảng tự động lên đến hơn 20 tỷ USD (Báo cáo Logistics 2022, 2022). 13 Đặc điểm dịch vụ logistics Thứ nhất, dịch vụ logistics được xác định là một hoạt động thương mại.