Chương 1. Pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài trong lĩnh vực thương mại. Thực tiễn công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài trong lĩnh vực thương mại và kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật. 8 CHƢƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƢỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC THƢƠNG MẠI 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Phán quyết của trọng tài nƣớc ngoài Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn, các quyết định (phán quyết) trọng tài có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp. Thủ tục thi hành phán quyết của trọng tài trong nước tương đối đơn giản. Tuy nhiên, việc thi hành phán quyết của trọng tài “có yếu tố nước ngoài” thì phức tạp hơn, phải thông qua thủ tục công nhận và cho thi hành tại Tòa án nơi phán quyết được yêu cầu thi hành.
Theo nội dung Điều I.1 của Công ước New York 1958 thì: Công ước này được áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các phán quyết của Trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và cho thi hành quyết định Trọng tài đó. Công ước còn được áp dụng cho những phán quyết của Trọng tài không được coi là phán quyết trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu. Như vậy, theo quy định nêu trên thì một phán quyết trọng tài được xem là phán quyết của TTNN nếu thuộc một trong hai trường hợp sau: Thứ nhất, phán quyết được ban hành tại lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài đó. Thứ hai, phán quyết này không được coi là phán quyết trong nước tại quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu.
Công ước này không nêu rõ định nghĩa thế nào là “phán quyết của trọng tài”, nhưng theo Bản hướng dẫn của Ban thư ký UNCITRAL về Công ước New York (bản hướng dẫn của UNCITRAL) thì chỉ những quyết định được ban hành bởi trọng 9 tài viên nhằm giải quyết toàn bộ hay một vài vấn đề của vụ tranh chấp một cách chung thẩm và có hiệu lực ràng buộc, bao gồm cả vấn đề về thẩm quyền mới được xem là “phán quyết của trọng tài”.1 Trên cơ sở tham khảo quy định của Công ước New York 1958; Sổ tay hướng dẫn dành cho Thẩm phán của Hội đồng Trọng tài thương mại quốc tế (ICCA) về giải thích Công ước New York 1958; tài liệu hướng dẫn về Công ước New York năm 1958 của hai tác giả là Gaillard và Bermann2 với sự khuyến nghị sử dụng của Ban Thư ký Uỷ ban Luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc, thì BLTTDS 2015 đã đưa ra định nghĩa về phán quyết của TTNN như sau: “Phán quyết của TTNN được xem xét và công nhận tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành.”3 Quy định mới này tương thích với khái niệm “phán quyết của trọng tài” được quy định tại khoản 10 Điều 3 của Luật TTTM năm 20104. Tuy nhiên, so với nội dung của Công ước New York thì BLTTDS 2015 đưa ra thêm hai tiêu chí để một quyết định trọng tài được xem là phán quyết của trọng tài, đó là: Thứ nhất, phán quyết đó phải giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp. Thứ hai, chấm dứt tố tụng trọng tài. Theo quy định tại khoản 3 Điều 424 của BLTTDS 2015 thì: Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định của Luật trọng tài thương mại của Việt Nam”, quy định này đã dẫn chiếu đến quy định của Luật TTTM về định nghĩa TTNN, 1 Hướng dẫn của Ban thư ký UNCITRAL, xem thêm tại: http://newyorkconvention1958.php?lvl=cmspage&pageid=10&menu=617&opac_view=-1 2 Xem tại www.org của Gaillard và Bermann 3 Khoản 2 Điều 424 BLTTDS 2015 4 Khoản 10 Điều 3- Luật TTTM năm 2010: Phán quyết của Trọng tài là quyết định của Hội đồng Trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng Trọng tài.
10 cụ thể tại: Khoản 12 Điều 3 của Luật TTTM quy định: “Phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn”. Tóm lại, theo quan điểm của tác giả khái niệm “phán quyết của TTNN” theo pháp luật Việt Nam không căn cứ vào địa điểm nơi phán quyết được ban hành mà dựa vào việc xác định trọng tài giải quyết vụ tranh chấp có phải là TTNN hay không. Định nghĩa này rơi vào trường hợp thứ hai của Công ước New York 1958, theo đó phán quyết của TTNN là “phán quyết không được coi là phán quyết của Trọng tài trong nước”. Tức là, cho dù phán quyết này được tuyên tại lãnh thổ Việt Nam cũng không được xem là phán quyết trong nước mà phải được xem là phán quyết của TTNN và phải thông qua thủ tục công nhận và cho thi hành theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Phán quyết của trọng tài nƣớc ngoài trong lĩnh vực thƣơng mại Tương tự như khái niệm “phán quyết của TTNN” đã phân tích ở trên thì “phán quyết của TTNN trong lĩnh vực thương mại” cũng là một phán quyết của TTNN, nhưng phạm vi của phán quyết này là giải quyết các tranh chấp xảy ra trong lĩnh vực thương mại. Hoạt động thương mại theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 LTM 2005 là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Tranh chấp thương mại là những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức hoặc giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.5 Do vậy, khái niệm “phán quyết của TTNN trong lĩnh vực thương mại” theo quan điểm của tác giả cũng là “một phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài 5 Khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015. 11 được ban hành nhằm giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp thương mại, chấm dứt hoạt động tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành, được tuyên ngoài lãnh thổ hoặc trong lãnh thổ Việt Nam nếu các bên có thỏa thuận lựa chọn”.
Về đặc điểm của phán quyết này thì đây là những phán quyết trọng tài xảy ra trong lĩnh vực thương mại mà chủ thể là các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và cùng hoạt động nhằm mục đích sinh lợi. Công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nƣớc ngoài Hiện nay trong khoa học pháp lý tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ “công nhận và cho thi hành”. Theo từ điển Luật học6 thì “công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài là thừa nhận giá trị pháp lý và áp dụng các biện pháp để thực hiện quyết định của trọng tài nước ngoài”. Còn theo một công trình nghiên cứu khoa học đã công bố thì: Công nhận là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật, còn cho thi hành được hiểu là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm cho quyết định đó được thực thi trên thực tế.
Việc công nhận một phán quyết trọng tài là chỉ trao cho phán quyết đó hiệu lực pháp luật chứ không có nghĩa là phán quyết trọng tài đó được thi hành trên thực tế. Nếu công nhận chỉ là hành vi thừa nhận trên thực tế một quyết định của trọng tài nước ngoài thì cho thi hành là trao hiệu lực bắt buộc thi hành cho quyết định đó. Dựa theo các định nghĩa này thì công nhận và cho thi hành là hai hành vi khác biệt nhau về trình tự, thủ tục cũng như kết quả. Mục đích của công nhận là ngăn ngừa một bên tranh chấp tiếp tục khởi kiện vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực.
Bên được hưởng lợi từ quyết định có quyền yêu cầu Toà án công nhận quyết định này và ràng buộc các bên liên quan tới những vấn đề đã được giải quyết. Khi Toà án đã ra quyết định công nhận thì các bên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thi hành quyết định có hiệu lực này. Trong trường hợp này, công nhận và thi hành là hai thuật ngữ đi 6 Từ điển Luật học - Viện Khoa học pháp lý (thuộc Bộ Tư pháp), Nhà xuất bản Tư pháp, 2006. 12 cùng và là một thủ tục có liên quan với nhau, nó đảm bảo cho một bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện.
Tuy nhiên, việc cho thi hành quyết định trọng tài nước ngoài với việc tổ chức thi hành quyết định đó trên thực tế là hai việc khác nhau. Quyết định sau khi được công nhận và cho thi hành muốn tổ chức thi hành trên thực tế phải trải qua những thủ tục phức tạp khác được tiến hành bởi Cơ quan thi hành án chứ không phải Tòa án. Quá trình Tòa án nước sở tại công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài nước ngoài cùng với quá trình tổ chức thi hành quyết định đó trên thực tế được gọi là quá trình “công nhận và thi hành” quyết định của trọng tài nước ngoài. Khi Tòa án được yêu cầu công nhận phán quyết trọng tài, Tòa án phải đảm bảo phán quyết đó được thi hành, trong BLTTDS có quy định: Khi phán quyết được công nhận sẽ được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự, và phán quyết chỉ được thi hành sau khi có quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật7.
Tóm lại xuất phát từ các phân tích trên thì khái niệm “công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN” là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của một quốc gia nhất định công nhận hiệu lực pháp luật của quyết định đó và thừa nhận quyết định đã có hiệu lực pháp luật được mang ra tổ chức thi hành trên thực tế tại lãnh thổ của một quốc gia mình nếu quyết định trọng tài đó có yêu cầu thi hành trên thực tế.