LỜI MỞ ĐẦU.7 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT. PHẦN GIỚI THIỆU. CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CHUNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU. Đặc thù pháp lý của Liên minh châu Âu – EU với tư cách là bên tham gia xây dựng chính sách thương mại quốc tế.
Lồng ghép các vấn đề phi thương mại vào chính sách thương mại của EU. Chính sách thương mại đa phương của Liên minh châu Âu. CCP ở cấp song phương và khu vực. Các nội dung chính trong một FTA và RTA của EU.
FTA Việt Nam-EU: Tác động đối với Việt Nam. Chính sách thương mại đơn phương của Liên minh châu Âu. Quá trình ra quyết định về CCP và thể chế có liên quan. CHÍNH SÁCH NGÀNH.
Quy chuẩn và các biện pháp vệ sinh an toàn và kiểm dịch động thực vật. Chính sách thương mại trong nông nghiệp. Sản phẩm hóa chất. Sản phẩm công nghệ thông tin (IT).
Quyền sở hữu trí tuệ. Tác động của các chính sách ngành tới Việt Nam. KHÍA CẠNH PHÁT TRIỂN TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CHUNG CỦA EU. PHẦN GIỚI THIỆU Liên minh châu Âu gồm 28 quốc gia độc lập đã ký kết một hiệp ước quốc tế nhằm hình thành và trao cho Liên minh này các quyền siêu quốc gia.
Điều này có nghĩa là nước thành viên trao cho các cơ quan EU quyền lập pháp trong những lĩnh vực cụ thể và áp dụng pháp luật này theo trật tự pháp lý của mỗi nước thành viên. Luật châu Âu có nguồn gốc từ pháp luật cơ bản và văn bản dưới luật. Án lệ cũng là một nguồn quan trọng để diễn giải luật cơ bản và văn bản dưới luật của EU. Pháp luật cơ bản cụ thể gồm các hiệp ước và những hiệp định khác có vị thế như nhau.
Luật pháp cơ bản được thống nhất thông qua đàm phán trực tiếp giữa chính phủ các nước thành viên. Những hiệp ước hiện nay về Liên minh châu Âu và chức năng của Liên minh đã trải qua một số lần sửa đổi và thông qua các “Nghị định thư” của các hiệp ước này: đó là Hiệp ước Rome (1957), Đạo luật chung châu Âu (1987), Hiệp ước về Liên minh châu Âu ‘Hiệp ước Maastricht’ (1992), Hiệp ước Amsterdam (1997), Hiệp ước Nice (2001), và Hiệp ước Lisbon (2009). Văn bản dưới luật là quy định của Liên minh châu Âu được thực hiện thông qua các cơ quan của Liên minh, trên cơ sở thẩm quyền trao cho các cơ quan này. Văn bản dưới luật gồm: • Quy định – có tính ràng buộc ở mọi nước thành viên; • Chỉ thị - có tính ràng buộc về kết quả đạt được nhưng các nước thành viên có thể lựa chọn phương thức thực thi; • Quyết định – có tính ràng buộc đối với những nước mà quyết định đề cập; • Khuyến nghị - không có tính ràng buộc.
Án lệ là phán quyết của các tòa án EU trong các vụ việc cụ thể, nêu ra các diễn giải đối với những hiệp ước và văn bản dưới luật. Mặc dù mỗi phán quyết chỉ có tính ràng buộc đối với các bên liên quan, nhưng các diễn giải này thường được đưa ra sau khi cân nhắc nghiêm túc và đóng góp vào sự hiểu biết chung về luật EU. 13 Luật EU áp dụng với mọi nước thành viên và đối tượng thuộc quyền kiểm soát của luật. Trong trường hợp có xung đột giữa luật quốc gia với luật EU, sẽ áp dụng luật EU.
Đây là quyền tối cao của luật EU. Ngoài ra, luật EU thâm nhập trực tiếp vào trật tự pháp lý của các nước thành viên EU. Luật được cơ quan quản lý hành chính (như hải quan) và tòa án quốc gia của các nước thành viên EU áp dụng trực tiếp. Đây là nguyên tắc áp dụng trực tiếp.
• Hiệp ước ECSC ký tại Paris năm 1951, nhóm các nước Pháp, Đức, Ý, và các nước Benelux lập thành một Cộng đồng nhằm thúc đẩy sự di chuyển tự do với sản phẩm than và thép cũng như việc tiếp cận tự do các nguồn sản xuất. • Cộng đồng Kinh tế châu Âu hoặc viết tắt là EEC được hình thành năm 1957 bởi Hiệp ước Rome. Đây là tên chính thức đầu tiên của EU cho tới khi có Hiệp ước Maastricht. • Hiệp ước Maastricht có hiệu lực vào ngày 1/11/1993.
Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) sau đó được đổi tên thành Cộng đồng châu Âu hay viết tắt là EC. • Với việc đưa vào hiệu lực Hiệp ước Lisbon từ ngày 1/12/2009, Cộng đồng châu Âu và các “trụ cột” khác đã thực sự hòa nhập vào Liên minh châu Âu, có đặc thù pháp lý và trở thành dấu ấn cho sự hội nhập châu Âu. 14 Các nước thành viên EU 1952 1973 1981 1986 1995 2004 2007 2013 15 2. CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CHUNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU 2.
Giới thiệu Chính sách thương mại chung (CCP) là một trong những trụ cột chính trong quan hệ của Liên minh châu Âu với các nước khác trên thế giới. Đây là một lĩnh vực không thể thiếu trong thẩm quyền của Liên minh (Điều 3 của Hiệp ước về chức năng của Liên minh châu Âu (TFEU)), nghĩa là chỉ EU, chứ không phải bất cứ quốc gia thành viên đơn lẻ nào, có thể ban hành luật về những vấn đề thương mại và ký kết các hiệp định thương mại quốc tế. CCP ám chỉ việc thực hiện đồng bộ quan hệ thương mại với các nước thứ ba, nhất là thông qua các phương tiện thuế quan chung và quy chế xuất nhập khẩu chung. Cơ sở của chính sách này là liên minh hải quan với một Biểu thuế chung áp dụng với bên ngoài và phạm vi của chính sách này được xác định tại Điều 207 của Hiệp ước TFEU, bao gồm: • Thay đổi về thuế suất; • Ký kết các hiệp định về thuế quan và thương mại liên quan đến thương mại hàng hóa và dịch vụ, cũng như các khía cạnh thương mại của sở hữu trí tuệ, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đạt được sự đồng bộ trong các biện pháp tự do hóa, chính sách xuất khẩu và các biện pháp bảo hộ thương mại như những biện pháp áp dụng trong trường hợp bán phá giá hoặc trợ cấp; • Chính sách thương mại chung phải được thực thi theo những nguyên tắc và mục tiêu của chính sách đối ngoại của Liên minh.
Trong quan hệ quốc tế của mình, EU ủng hộ “thương mại tự do công bằng” (Điều 3.5 của Hiệp định TEU). Đặc thù pháp lý của Liên minh châu Âu – EU với tư cách là bên tham gia xây dựng chính sách thương mại quốc tế EU có đặc thù pháp lý, cụ thể là khối này có tư cách pháp lý để đàm phán và ký kết các hiệp định quốc tế có tính ràng buộc với mọi nước thành viên trong khối thông qua quá trình xây dựng quy tắc tổ chức nội bộ. Trên thực tế, đặc thù pháp lý của EU, gắn với thực tế là EU là một liên minh hải quan và có thẩm quyền theo chính sách thương mại chung, nghĩa là EU có 16 thể là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với vai trò là một thực thể, và EU có thể ký kết các hiệp định thương mại tự do với các bên thứ ba. Với năng lực này, EU, đại diện cho một thị trường 500 triệu dân và là nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hàng đầu trên thế giới, có năng lực xây dựng chính sách thương mại ảnh hưởng mạnh tới quan hệ thương mại quốc tế ở cả cấp độ song phương, khu vực và đa phương.
Bên cạnh đó, những hành động đơn phương và quy định nội khối của EU cũng đề ra điều kiện cho việc tiếp cận thị trường trong lãnh thổ hải quan của khối, và với ưu thế trong thị trường toàn cầu như vậy, sẽ gây ảnh hưởng lớn tới thương mại. Lồng ghép các vấn đề phi thương mại vào chính sách thương mại của EU Hiệp ước TFEU đã tích hợp CCP vào chính sách đối ngoại của EU. Điều này gắn với định hướng mục tiêu mới của tự do hóa thương mại, phải theo đuổi cả những mục tiêu thương mại lẫn phi thương mại. Thực tế, các nguyên tắc chung của chính sách đối ngoại của EU được đề ra trong Điều 3(5) của Hiệp ước về Liên minh châu Âu (TEU): “Trong quan hệ với thế giới, Liên minh sẽ duy trì và phát huy các giá trị và lợi ích của khối để bảo vệ công dân mình.
Liên minh sẽ đóng góp vào hòa bình, an ninh, phát triển bền vững của thế giới, đoàn kết và tôn trọng lẫn nhau giữa mọi người, thương mại tự do và bình đẳng, xóa đói nghèo và bảo vệ nhân quyền, nhất là quyền trẻ em, cũng như chấp hành nghiêm chỉnh và xây dựng luật pháp quốc tế, trong đó tôn trọng các quy tắc của Hiến chương Liên hợp quốc”. Ngoài ra, Điều 21 của Hiệp ước TEU, tham chiếu tới những nguyên tắc và mục tiêu của chính sách đối ngoại EU, quy định rằng: “Hành động của Liên minh trên trường quốc tế được điều chỉnh bởi những nguyên tắc đã khơi nguồn cho việc hình thành, phát triển và mở rộng khối và đây cũng là những nguyên tắc mà Liên minh tìm cách thúc đẩy trên thế giới: dân chủ, pháp trị, tính phổ biến và không thể phân chia của quyền con người và các quyền tự do cơ bản, tôn trọng các quy tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế […]. 17 Quy định này chỉ rõ: “Liên minh sẽ xác định và theo đuổi những chính sách và hành động chung, và sẽ hợp tác ở cấp độ cao trọng mọi lĩnh vực của quan hệ quốc tế, nhằm: […] a. Củng cố và ủng hộ dân chủ, pháp trị, nhân quyền và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế; b.
Gìn giữ hòa bình, ngăn chặn xung đột và tăng cường an ninh quốc tế theo các mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc […]; c. Thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường bền vững của các nước đang phát triển, với mục địch chủ yếu là xóa đói nghèo; d. Khuyến khích mọi quốc gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới, thông qua việc loại bỏ dần những hạn chế đối với thương mại quốc tế; e. Hỗ trợ xây dựng các biện pháp quốc tế nhằm bảo tồn và cải thiện chất lượng môi trường và quản lý bền vững tài nguyên toàn cầu, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững […] f.
Thúc đẩy hệ thống quốc tế dựa trên sự hợp tác đa phương mạnh mẽ hơn và quản trị toàn cầu hiệu quả. Chính sách thương mại đa phương của Liên minh châu Âu 2. Liên minh châu Âu với tư cách là một thành viên WTO Liên minh châu Âu là thành viên của WTO với tư cách là một thực thể pháp lý.