Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chào bán cổ phiếu riêng lẻ (CBCPRL) là phương thức huy động vốn chủ sở hữu quan trọng giúp các công ty đại chúng tăng cường quy mô tài chính, giải quyết nhu cầu vốn ngắn hạn cũng như tài trợ cho các dự án phát triển dài hạn mà không chịu áp lực hoàn trả gốc và lãi như vốn vay tín dụng. Tại Việt Nam, nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 70% tổng số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, đòi hỏi khuôn khổ pháp lý về phát hành chứng khoán riêng lẻ phải vừa linh hoạt để hỗ trợ tiếp cận vốn, vừa chặt chẽ để duy trì trật tự thị trường. Trong giai đoạn phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19, thị trường chứng khoán (TTCK) xuất hiện nhiều biến động phức tạp; các đợt phát hành cổ phiếu riêng lẻ của một số công ty đại chúng niêm yết đã bộc lộ những bất cập như chiết khấu giá quá sâu, tỷ lệ phát hành lớn gây pha loãng quyền sở hữu, hoặc hiện tượng phân phối cho lãnh đạo và cổ đông lớn gây thiệt hại đến quyền lợi của nhà đầu tư nhỏ lẻ.
Từ bối cảnh thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Trung Hiếu xác định rõ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chào bán cổ phiếu riêng lẻ và pháp luật điều chỉnh hoạt động này đối với công ty đại chúng niêm yết;
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng trong hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ tại Việt Nam, chỉ ra những kết quả đạt được cùng các vướng mắc, bất cập;
- Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty đại chúng niêm yết ở Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy phạm pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về chào bán cổ phiếu riêng lẻ của các công ty đại chúng niêm yết tại Việt Nam. Về phạm vi nghiên cứu, tác giả giới hạn đề tài ở hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty đại chúng niêm yết; không bao gồm các phương thức chào bán chứng khoán ra công chúng, chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư, trái phiếu Chính phủ hoặc chứng khoán của doanh nghiệp do Chính phủ bảo lãnh. Dữ liệu thực tiễn và văn bản pháp luật được tác giả khảo cứu tập trung từ khi ban hành Luật Chứng khoán năm 2019, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Nghị định số 155/2020/NĐ-CP và các diễn biến thị trường thực tế kéo dài đến giai đoạn 2023 - 2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được triển khai dựa trên nền tảng pháp lý thực định tại Việt Nam và lý luận luật so sánh quốc tế:
- Cơ sở văn bản pháp luật Việt Nam: Luật Chứng khoán năm 2019 (đặc biệt là khoản 1 Điều 4 về khái niệm chứng khoán, khoản 14 Điều 4 về nhà đầu tư chiến lược, Điều 31 về điều kiện chào bán riêng lẻ, Điều 32 về điều kiện công ty đại chúng); Luật Doanh nghiệp năm 2020 (Điều 124 về chào bán cho cổ đông hiện hữu, Điều 125 về chào bán cổ phần riêng lẻ, Điều 127 về chuyển nhượng cổ phần); Nghị định số 155/2020/NĐ-CP (Điều 17 về xác định giá cổ phiếu dưới mệnh giá, Điều 43 về hồ sơ chào bán, Điều 44 về đối tượng tham gia); cùng các văn bản tiền đề trong lịch sử lập pháp như Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, Nghị định số 01/2010/NĐ-CP, Nghị định số 58/2012/NĐ-CP và Công văn số 14285/BTC-UBCK năm 2008.
- Cơ sở luật so sánh quốc tế: Quy định của Hoa Kỳ (Điều 506(b) thuộc Quy định D, Đạo luật Chứng khoán năm 1933 về giới hạn dưới 35 nhà đầu tư); Thái Lan (Thông báo Torchor 28/2565 về giới hạn dưới 50 nhà đầu tư); Pháp (Mã Tiền tệ và Tài chính - Code Monétaire et Financier thuộc hệ thống Civil Law); Vương quốc Anh (Đạo luật Công ty năm 2006 - Companies Act 2006 và quy định của Cơ quan Quản lý Tài chính - FCA thuộc hệ thống Common Law); cùng khái niệm công ty đại chúng theo Luật Chứng khoán Ba Lan (khoản 9 Điều 4) và Luật Chứng khoán Bungari (Điều 110).
Về phương pháp luận, tác giả vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn áp dụng để mổ xẻ nội dung các điều luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ;
- Phương pháp tổng hợp tài liệu, số liệu và kiến nghị hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật;
- Phương pháp hệ thống hóa nhằm sắp xếp trình tự, đánh giá tính logic, đồng bộ giữa Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn;
- Phương pháp luật so sánh nhằm đối chiếu mô hình điều chỉnh của Việt Nam với các hệ thống pháp luật khác để nhận diện các khoảng trống lập pháp.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong công trình bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Chính phủ, giáo trình đào tạo của Trường Đại học Luật Hà Nội, thông tin báo cáo thị trường từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), dữ liệu giao dịch từ Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE), nghị quyết đại hội đồng cổ đông và thông tin công bố của các doanh nghiệp niêm yết.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về chào bán cổ phiếu riêng lẻ và pháp luật về chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty đại chúng niêm yết
Tác giả hệ thống hóa các khái niệm nền tảng: chứng khoán theo khoản 1 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019 gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng quyền, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký và chứng khoán phái sinh; phân loại chứng khoán theo tính chất huy động vốn (vốn, nợ, phái sinh), theo khả năng xác định chủ sở hữu (ghi danh, vô danh) và theo hình thái biểu hiện (chứng chỉ, ghi sổ).
Hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ được phân biệt rõ với chào bán ra công chúng: chào bán riêng lẻ giới hạn phạm vi dưới 100 nhà đầu tư (không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp), không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet để quảng bá; trong khi chào bán ra công chúng đòi hỏi phân phối cho tối thiểu 100 nhà đầu tư không chuyên, thủ tục phức tạp và chi phí phát hành cao (thường chiếm từ 8% đến 10% tổng lượng vốn huy động).
Về mặt lịch sử lập pháp, tác giả phân tích tiến trình từ Luật Doanh nghiệp năm 1999 (chưa có quy định cụ thể, đẩy sang pháp luật chứng khoán dẫn đến lúng túng cho doanh nghiệp), Luật Doanh nghiệp năm 2005 (khoản 6 Điều 87 lần đầu đề cập thẩm quyền hướng dẫn của Chính phủ), Nghị định số 01/2010/NĐ-CP (lần đầu định nghĩa chào bán cổ phần riêng lẻ nhưng các Sở Kế hoạch và Đầu tư từ chối thụ lý do thiếu hướng dẫn thực hiện), đến Nghị định số 58/2012/NĐ-CP và hoàn thiện tại Luật Chứng khoán năm 2019 kết hợp Nghị định số 155/2020/NĐ-CP.
Điều kiện phát hành riêng lẻ của công ty đại chúng niêm yết hiện nay căn cứ theo Điều 31 Luật Chứng khoán năm 2019:
- Có quyết định của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thông qua phương án phát hành và sử dụng vốn;
- Đối tượng chỉ bao gồm nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;
- Thời gian hạn chế chuyển nhượng tối thiểu 03 năm đối với nhà đầu tư chiến lược và 01 năm đối với nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;
- Các đợt chào bán phải cách nhau ít nhất 06 tháng kể từ ngày kết thúc đợt gần nhất;
- Đáp ứng quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.
Tác giả chỉ ra mâu thuẫn pháp lý: trong khi khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp năm 2020 bảo đảm quyền tự do chuyển nhượng cổ phần (chỉ hạn chế đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập trong 3 năm đầu), thì Luật Chứng khoán năm 2019 lại đặt ra hạn chế chuyển nhượng 1 năm và 3 năm đối với cổ đông tham gia đợt phát hành riêng lẻ. Đồng thời, việc áp đặt hạn chế chuyển nhượng 01 năm đối với cả cán bộ công nhân viên tham gia chương trình cổ phiếu riêng lẻ đã làm giảm động lực gắn bó của người lao động trong bối cảnh khó khăn sau đại dịch.
| Tiêu chí |
Chào bán cổ phiếu riêng lẻ (CBCPRL) |
Chào bán cổ phiếu ra công chúng (IPO/Public Offering) |
| Đối tượng tiếp cận |
Nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; dưới 100 nhà đầu tư |
Công chúng đầu tư rộng rãi; tối thiểu 100 nhà đầu tư không chuyên nghiệp |
| Phương tiện công bố |
Không được dùng thông tin đại chúng hoặc Internet để mời chào, quảng cáo |
Bắt buộc công bố qua phương tiện thông tin đại chúng, bản cáo bạch |
| Chi phí phát hành |
Thấp, thủ tục hồ sơ nội bộ gọn hơn |
Cao, có thể chiếm từ 8% đến 10% tổng lượng vốn huy động |
| Hạn chế chuyển nhượng |
Tối thiểu 03 năm (NĐT chiến lược), 01 năm (NĐT chuyên nghiệp) |
Tự do chuyển nhượng ngay sau khi niêm yết giao dịch |
Chương 2: Thực trạng pháp luật chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty đại chúng niêm yết ở Việt Nam
Theo số liệu tổng kết TTCK năm 2023 từ Chủ tịch UBCKNN Vũ Thị Chân Phương được trích dẫn trong khóa luận, tổng giá trị huy động vốn qua TTCK đạt 418.271 tỷ đồng, tăng 33,5% so với năm 2022. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định pháp luật về phát hành riêng lẻ đã bộc lộ 4 nhóm bất cập nghiêm trọng trong thực tiễn:
- Giá chào bán thấp hơn rất nhiều so với thị giá và tiềm năng tăng trưởng: Dù Điều 17 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP đã hướng dẫn xác định giá bình quân tham chiếu của 60 ngày giao dịch liên tiếp khi thị giá dưới mệnh giá, nhiều công ty vẫn thông qua mức giá chiết khấu quá sâu cho đối tác, làm sụt giảm niềm tin của nhà đầu tư nhỏ lẻ. Điển hình là CTCP Sản xuất kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình Thạnh (GIL), khi công bố giá phát hành riêng lẻ thấp hơn đáng kể so với thị giá đang giao dịch, gây phản ứng tiêu cực trên thị trường.
- Số lượng cổ phiếu phát hành chiếm tỷ lệ quá cao so với tổng số cổ phiếu đang lưu hành: Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Chứng khoán năm 2019 không khống chế trần tỷ lệ vốn được phép tăng thông qua phát hành riêng lẻ trong một năm tài chính. Trường hợp GIL thực hiện chào bán với tỷ lệ lên đến 38,89% tổng số cổ phiếu đang lưu hành tại thời điểm phát hành, dẫn đến hệ quả pha loãng cổ phiếu nghiêm trọng, làm giảm giá trị tài sản của các cổ đông hiện hữu nhưng cổ đông nhỏ lẻ hoàn toàn không có công cụ pháp lý để tự vệ.
- Đối tượng chào bán là lãnh đạo công ty, cổ đông lớn hoặc đối tác bất thường: Thực tế xuất hiện tình trạng lách luật biến phát hành riêng lẻ thành công cụ thâu tóm hoặc trục lợi:
- Tổng CTCP Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIG): Theo Nghị quyết HĐQT số 139 ngày 18/5/2021 triển khai phương án phát hành 75 triệu cổ phiếu riêng lẻ với giá 20.000 đồng/cổ phiếu (chiết khấu 28,6% so với thị giá, hạn chế chuyển nhượng 1 năm). Danh sách phân phối có 3/6 nhà đầu tư là lãnh đạo công ty (mua 25 triệu cổ phiếu, chiếm 33,3%) và cổ đông lớn (mua 38 triệu cổ phiếu, chiếm 50,7%), tổng cộng nhóm nội bộ nắm giữ 84% đợt chào bán mà không ưu tiên quyền mua cho cổ đông hiện hữu.
- Công ty Cổ phần Sợi Thế Kỷ (STK): Kế hoạch chào bán 13,5 triệu cổ phiếu giá từ 18.000 đồng/cổ phiếu, trong đó Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc đăng ký mua tới 12,5 triệu cổ phiếu.
- CTCP Dược phẩm Hà Tây (DHT): Chào bán 8,4 triệu cổ phiếu cho nhà đầu tư chiến lược ASKA Pharmaceutical (Nhật Bản) với giá trị hơn 181 tỷ đồng, nâng tỷ lệ sở hữu lên 32,56% vốn điều lệ (sau khi đã mua 24,9% vào năm 2020).
- CTCP Phát Đạt (PDR): Chào bán hơn 67,1 triệu cổ phiếu riêng lẻ cho nhóm nhà đầu tư liên quan đến các doanh nghiệp bất động sản đối tác (An Điền, TPS Thành Phong, Khách sạn Bình Minh).
- CTCP Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình (HBC): Dự kiến phát hành 220 triệu cổ phiếu để huy động từ 2.640 đến 3.190 tỷ đồng cho 2 nhà đầu tư nước ngoài chưa từng nắm giữ cổ phiếu công ty là Primetech VN (120 triệu cổ phiếu) và Tumaz and Tumaz Enterprises Ltd từ Kenya (100 triệu cổ phiếu).
- CTCP Hoàng Anh Gia Lai (HAG): Phát hành 130 triệu cổ phiếu giá 10.000 đồng/cổ phiếu, thay thế đối tác Quỹ Việt Cát bằng CTCP Tập đoàn Thaigroup (52 triệu cổ phiếu - 4,92%), Chứng khoán LPBank (50 triệu cổ phiếu - 4,73%) và 1 cá nhân (28 triệu cổ phiếu - 2,65%).
- Quy định khoảng cách giữa các đợt phát hành và thời hạn hạn chế chuyển nhượng: Quy định các đợt chào bán cách nhau ít nhất 06 tháng cho phép một công ty có thể phát hành 2 đợt trong một năm. Với các công ty có quy mô lớn như CTCP Chứng khoán VNDIRECT (VND) khi lập kế hoạch chào bán riêng lẻ gần 244 triệu cổ phiếu (chiếm 16,7% trên tổng số 1.217.844.009 cổ phiếu đang lưu hành), nếu triển khai dồn dập các đợt phát hành sẽ tạo áp lực bán tháo và pha loãng thị trường. Đồng thời, thời hạn hạn chế chuyển nhượng 3 năm đối với nhà đầu tư chiến lược sau đại dịch COVID-19 trở thành rào cản thanh khoản khiến nhiều đối tác rút lui, buộc doanh nghiệp phải hủy bỏ phương án phát hành.
| Doanh nghiệp (Mã CK) |
Khối lượng chào bán riêng lẻ |
Mức giá / Tỷ lệ phát hành |
Cơ cấu đối tượng mua chủ yếu |
| DIG |
75 triệu cổ phiếu |
20.000 đ/CP (chiết khấu 28,6%) |
Lãnh đạo công ty (33,3%) và cổ đông lớn (50,7%) |
| GIL |
Khối lượng lớn theo phương án |
Tỷ lệ chào bán chiếm 38,89% lượng CP lưu hành |
Đối tác chiến lược với giá chiết khấu sâu |
| STK |
13,5 triệu cổ phiếu |
Từ 18.000 đ/CP |
Chủ tịch HĐQT và TGĐ mua 12,5 triệu cổ phiếu |
| DHT |
8,4 triệu cổ phiếu |
Thu về hơn 181 tỷ đồng |
ASKA Pharmaceutical (nâng sở hữu lên 32,56%) |
| HBC |
220 triệu cổ phiếu (dự kiến) |
Dự kiến huy động 2.640 - 3.190 tỷ đồng |
Primetech VN (120 tr CP) và Tumaz Kenya (100 tr CP) |
| HAG |
130 triệu cổ phiếu |
10.000 đ/CP |
Thaigroup (52 tr CP), LVS (50 tr CP), cá nhân (28 tr CP) |
| VND |
Gần 244 triệu cổ phiếu |
Chiếm 16,7% vốn lưu hành (1,217 tỷ CP) |
Chào bán cho 1 - 5 nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp |
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty đại chúng niêm yết ở Việt Nam
Đặt trong bối cảnh lịch sử phát triển TTCK Việt Nam từ Nghị định số 48/1998/NĐ-CP, sự ra đời của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (hoạt động từ 28/7/2000) và Hà Nội (hoạt động từ 08/3/2005), tác giả khẳng định sự can thiệp lập pháp là nhân tố bảo đảm tính công bằng. Chương 3 tập trung vào các nhóm định hướng và giải pháp cụ thể:
- Giới hạn giá chào bán cổ phiếu riêng lẻ: Bổ sung cơ chế sàn xác định biên độ chiết khấu tối đa của giá phát hành riêng lẻ so với thị giá bình quân giao dịch trên thị trường, ngăn chặn hành vi định giá quá thấp gây thiệt hại cho tài sản cổ đông hiện hữu.
- Quy định trần số lượng cổ phiếu được chào bán riêng lẻ: Cần sửa đổi luật theo hướng khống chế tỷ lệ phần trăm tối đa số lượng cổ phần phát hành riêng lẻ trên tổng số cổ phần đang lưu hành trong một năm tài chính, nhằm loại bỏ nguy cơ pha loãng giá trị và quyền kiểm soát quá mức.
- Hạn chế đối tượng chào bán liên quan đến lãnh đạo và cổ đông lớn: Bổ sung quy định kiểm soát xung đột lợi ích khi người mua là thành viên HĐQT, Ban Điều hành hoặc cổ đông lớn; tách biệt quy trình phát hành riêng lẻ để huy động vốn đối tác bên ngoài với việc tăng sở hữu nội bộ; bắt buộc áp dụng cơ chế phê duyệt độc lập hoặc chào bán công khai cho cổ đông hiện hữu nếu bán cho người nội bộ.
- Điều chỉnh linh hoạt thời hạn hạn chế chuyển nhượng và giãn cách đợt phát hành: Xem xét tính khả thi của quy định hạn chế chuyển nhượng 3 năm đối với nhà đầu tư chiến lược trong các giai đoạn kinh tế suy thoái; phân hóa thời hạn đối với người lao động tham gia chương trình cổ phần nội bộ; đồng thời đánh giá lại quy định giãn cách 6 tháng để kiểm soát nguy cơ phát hành dồn dập.
- Thiết lập chế tài nghiêm khắc về công bố thông tin: Hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm nghĩa vụ công bố phương án phát hành, tiến độ sử dụng vốn thu được; ngăn chặn các hành vi sử dụng sai mục đích nguồn vốn đã cam kết với nhà đầu tư.
- Đề xuất xây dựng sàn/hệ thống giao dịch tập trung cho cổ phiếu chào bán riêng lẻ: Tạo dựng môi trường giao dịch thứ cấp có kiểm soát cho chứng khoán riêng lẻ để hỗ trợ thanh khoản giữa các nhà đầu tư chuyên nghiệp, đồng thời quy định chặt chẽ giới hạn sử dụng nguồn vốn huy động được từ phát hành riêng lẻ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã ghi nhận các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật cụ thể:
- Hệ thống hóa tiến trình lập pháp: Làm rõ sự biến chuyển của các quy phạm điều chỉnh chào bán riêng lẻ tại Việt Nam từ Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, Nghị định số 01/2010/NĐ-CP, Nghị định số 58/2012/NĐ-CP đến khung khổ Luật Chứng khoán năm 2019 và Nghị định số 155/2020/NĐ-CP.
- Nhận diện xung đột quy chuẩn: Chỉ rõ điểm mâu thuẫn trực tiếp giữa quyền tự do chuyển nhượng cổ phần tại khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và quy định khóa chuyển nhượng 1 năm/3 năm tại Điều 31 Luật Chứng khoán năm 2019.
- Phân tích dữ liệu thực tiễn chuyên sâu: Đánh giá thực trạng huy động vốn năm 2023 (đạt 418.271 tỷ đồng, tăng 33,5%) và phân tích chi tiết các hồ sơ chào bán riêng lẻ có tranh chấp lợi ích điển hình trên sàn niêm yết (DIG, GIL, STK, DHT, PDR, HBC, HAG, VND).
- Hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ: Đề xuất 6 nhóm kiến nghị lập pháp có tính khả thi: khống chế mức chiết khấu giá, ấn định tỷ lệ trần phát hành tránh pha loãng, giám sát việc bán cổ phần cho cổ đông nội bộ, linh hoạt hóa thời hạn hạn chế chuyển nhượng hậu COVID-19, tăng nặng chế tài công bố thông tin và xây dựng thị trường giao dịch cổ phiếu riêng lẻ tập trung.
- Đóng góp học thuật so với các công trình trước: Khác với công trình của Lục Thị Hồng Nhung (2007) nghiên cứu chung về chào bán chứng khoán riêng lẻ cho mọi loại hình doanh nghiệp, hay luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Phương Thảo (2023) tập trung vào pháp luật bảo lãnh phát hành, khóa luận này đi sâu độc lập vào cơ chế chào bán cổ phiếu riêng lẻ của riêng loại hình công ty đại chúng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu ở đối tượng công ty đại chúng niêm yết, do đó chưa bao quát hết hoạt động phát hành riêng lẻ tại các công ty đại chúng chưa niêm yết (đăng ký giao dịch UPCoM) và công ty cổ phần chưa đại chúng. Đồng thời, đề tài tập trung vào công cụ cổ phiếu phổ thông, không mở rộng sang trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ hay chứng quyền có bảo đảm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực nghiệm định lượng về tác động của các đợt phát hành riêng lẻ lên biến động giá cổ phiếu trên HOSE/HNX trong dài hạn; hoặc nghiên cứu cơ chế vận hành chi tiết của sàn giao dịch tập trung dành riêng cho chứng khoán phát hành riêng lẻ tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, Tài chính - Chứng khoán làm tài liệu tham khảo cho các học phần Pháp luật Chứng khoán và Thị trường Chứng khoán;
- Cán bộ pháp chế doanh nghiệp, thành viên HĐQT các công ty niêm yết trong quá trình thiết kế phương án phát hành cổ phiếu riêng lẻ, xác định tiêu chí nhà đầu tư và xây dựng hồ sơ theo Nghị định số 155/2020/NĐ-CP;
- Các cơ quan quản lý thị trường (UBCKNN, Sở Giao dịch Chứng khoán) trong việc tham khảo luận cứ để sửa đổi quy định về tỷ lệ pha loãng và biện pháp bảo vệ cổ đông thiểu số;
- Nhà đầu tư cá nhân trên thị trường nhằm nhận diện các rủi ro pha loãng giá trị và xung đột lợi ích khi doanh nghiệp công bố phương án chào bán riêng lẻ.
Câu hỏi thường gặp
1. Điều kiện để công ty đại chúng niêm yết được chào bán cổ phiếu riêng lẻ theo Luật Chứng khoán 2019 là gì?
Căn cứ Điều 31 Luật Chứng khoán năm 2019, doanh nghiệp phải đáp ứng 5 điều kiện: có quyết định của ĐHĐCĐ thông qua phương án phát hành và phương án sử dụng vốn; đối tượng tham gia chỉ gồm nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; hạn chế chuyển nhượng tối thiểu 03 năm đối với nhà đầu tư chiến lược và 01 năm đối với nhà đầu tư chuyên nghiệp; các đợt chào bán phải cách nhau ít nhất 06 tháng; và tuân thủ quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài.
2. Tác giả đã chỉ ra điểm mâu thuẫn nào giữa Luật Doanh nghiệp 2020 và Luật Chứng khoán 2019?
Khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định nguyên tắc cổ phần được tự do chuyển nhượng (chỉ hạn chế đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập trong 3 năm đầu). Trong khi đó, Điều 31 Luật Chứng khoán năm 2019 lại đặt thêm quy định bắt buộc hạn chế chuyển nhượng 01 năm đến 03 năm đối với các cổ phần phát hành trong đợt chào bán riêng lẻ, tạo ra sự thiếu đồng bộ giữa hai đạo luật.
3. Hiện tượng chào bán cổ phiếu riêng lẻ cho ban lãnh đạo công ty được phản ánh qua ví dụ cụ thể nào?
Tác giả dẫn chứng trường hợp của DIG (tháng 5/2021) khi phát hành 75 triệu cổ phiếu giá 20.000 đồng/cổ phiếu (chiết khấu 28,6%): có tới 3/6 nhà đầu tư là lãnh đạo công ty mua 25 triệu cổ phiếu (33,3%) và cổ đông lớn mua 38 triệu cổ phiếu (50,7%). Một trường hợp khác là STK (tháng 11/2023), Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc đã đăng ký mua tới 12,5 triệu cổ phiếu trên tổng số 13,5 triệu cổ phiếu chào bán riêng lẻ.
4. Khóa luận nêu lỗ hổng nào về khối lượng phát hành và trường hợp thực tế nào minh chứng cho nguy cơ pha loãng?
Pháp luật hiện hành (cả Luật Chứng khoán năm 2019 và Luật Doanh nghiệp năm 2020) không quy định giới hạn trần về tỷ lệ vốn được phép phát hành riêng lẻ trong một năm. Tác giả dẫn chứng trường hợp công ty GIL khi chào bán lượng cổ phiếu riêng lẻ chiếm tới 38,89% tổng số lượng cổ phiếu đang lưu hành với giá chiết khấu sâu, dẫn đến pha loãng tài sản nghiêm trọng của cổ đông nhỏ lẻ.
5. Tác giả đề xuất giải pháp trọng tâm nào để bảo vệ cổ đông nhỏ lẻ trong hoạt động phát hành riêng lẻ?
Tác giả đề xuất cần bổ sung quy định khống chế mức giá chào bán tối thiểu (giới hạn biên độ chiết khấu so với thị giá); quy định trần tỷ lệ số lượng cổ phiếu được phép chào bán riêng lẻ trong năm tài chính; giám sát chặt chẽ các đợt phân phối cho lãnh đạo/cổ đông lớn; nâng cao chế tài xử phạt hành vi che giấu thông tin; và tiến tới thành lập sàn giao dịch tập trung dành riêng cho cổ phiếu chào bán riêng lẻ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Trung Hiếu đã hệ thống hóa toàn diện khung lý luận và pháp lý điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ của các công ty đại chúng niêm yết tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích số liệu thị trường và các hồ sơ chào bán thực tế giai đoạn 2021 - 2023, tác giả đã làm rõ các kẽ hở lập pháp về giá phát hành, tỷ lệ pha loãng và hiện tượng ưu đãi cho người nội bộ. Công trình đóng góp hệ thống giải pháp lập pháp thiết thực nhằm hoàn thiện pháp luật chứng khoán, hướng tới cân bằng giữa nhu cầu tài trợ vốn của doanh nghiệp niêm yết và yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cộng đồng nhà đầu tư.