phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận lý luận về việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hƣởng - Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu - Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tác phẩm “Học thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (The General Theory of Employment, Interest and Money) John Maynard Keynes (1936) London: McMillan. Keynes xây dựng lý thuyết về cầu tiền tệ đƣợc gọi là lý thuyết về sự ƣa thích thanh khoản. Lý thuyết này đƣợc trình bày trong tác phẩm nổi tiếng: “Học thuyết chung về công ăn việc làm, lãi suất và tiền tệ”.
Trong học thuyết của mình, Keynes đã nêu ra 3 động cơ cho việc giữ tiền: Động cơ giao dịch, động cơ dự phòng, động cơ đầu cơ. 5 Giáo trình Tài chính doanh nghiệp của PGS. Nguyễn Hòa Nhân (2013), NXB Tài chính, Hà Nội. Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, ngoài các tài sản cố định, để đảm bảo cho quá trinh sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành thƣờng xuyên và liên tục, đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lƣợng tài sản lƣu động nhất định.
Trong đó quản trị tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền và tiền gửi ngân hàng. Tác giả đã hệ thống hóa các lý thuyết về quản trị tiền mặt, trong đó bao gồm những động cơ mà doanh nghiệp phải giữ tiền mặt; lợi ích cũng nhƣ chi phí của việc nắm giữ tiền mặt, và các lý thuyết nền tảng về quản trị tiền mặt bằng mô hình Baumol và mô hình Miller-Orr. Nghiên cứu “Tại sao các công ty lại nắm giữ tiền mặt, bằng chứng từ các nước Liên minh kinh tế và tiền tệ Châu Âu EMU” (Why do firms hold cash, evidence from EMU countries) của Miguel A.Ferreira và Antonio S. Vilela (2003) đăng trong European Financial Management, vol.
Bài nghiên cứu này tác giả thực hiện nghiên cứu các yếu tố quyết định nắm giữ tiền mặt của công ty, sử dụng một mẫu gồm 400 công ty trong 12 quốc gia trong khối Liên minh Kinh tế và Tiền tệ (EMU) trong giai đoạn 1987-2000. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc nắm giữ tiền mặt có tƣơng quan dƣơng các cơ hội đầu tƣ và dòng tiền và có tƣơng quan âm với tính khoản của tài sản, đòn bẩy và quy mô của doanh nghiệp. Nợ ngân hàng và nắm giữ tiền mặt có tƣơng quan âm, hỗ trợ cho giả định rằng khi doanh nghiệp vay nợ nhiều, sẽ chịu sự giám sát chặt chẽ của ngân hàng, do đó sẽ nắm giữ ít tiền mặt hơn. Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng và ý nghĩa của việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp” (The determinants and implications of corporate 6 cash holdings) của Tim Opler và các cộng sự (1999) đăng trên Journal of Financial Econămics 52 (1999) 3-46 Bài nghiên cứu xem xét các yếu tố quyết định và ý nghĩa của việc nắm giữ tiền mặt và chứng khoán thị trƣờng của các công ty Mỹ giao dịch công khai trong giai đoạn 1971-1994 từ 1048 công ty Mỹ có niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán.
Với dữ liệu theo chuỗi thời gian và dữ liệu chéo, Tim Opler và các cộng sự đã tìm thấy bằng chứng ủng hộ lý thuyết đánh đổi về nắm giữ tiền mặt. Đặc biệt, các doanh nghiệp có cơ hội phát triển mạnh mẽ và dòng tiền rủi ro giữ tỷ lệ tiền mặt trên tổng tài sản không bằng tiền mặt tƣơng đối cao. Các công ty có khả năng tiếp cận thị trƣờng vốn, chẳng hạn nhƣ các công ty lớn và công ty có xếp hạng tín dụng cao, có xu hƣớng giữ tỷ lệ tiền mặt trên với tổng tài sản không có tiền mặt thấp hơn. Nghiên cứu “Các công ty Nhật nhạy cảm như thế nào đối với rủi ro lợi nhuận? Bằng chứng từ việc nắm giữ tiền mặt” (How Sensitive are Japanese Firms to Earnings Risk? Evidence from Cash Holdings) của Nguyen (2005) Nguyen (2005) đã nghiên cứu giả thuyết rằng số dƣ tiền mặt cho động cơ phòng ngừa và phục vụ để giảm thiểu sự biến động của lợi nhuận hoạt động.
Ông đã thu thập một mẫu quan sát gồm 9168 công ty tại thị trƣờng chứng khoán Tokyo trong giai đoạn 1992-2003. Thông qua phân tích hồi quy, Nguyen nhận thấy rằng nắm giữ tiền mặt tƣơng quan dƣơng với mức độ rủi ro công ty, nhƣng tƣơng quan âm với rủi ro ngành. Ông cũng phát hiện ra rằng việc nắm giữ tiền mặt tƣơng quan âm với qui mô của công ty và tỷ lệ nợ; và dƣơng với lợi nhuận của công ty, triển vọng tăng trƣởng, và tỷ lệ chi trả cổ tức. Nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các công ty REIT” (The determinants of REIT cash holdings) của Hardin 7 III, W.
Hardin III và các công sự (2009) sử dụng mẫu gồm 1.114 quan sát từ 194 quỹ tín thác đầu tý bất động sản (REITs) ở Mỹ giai đoạn 1998-2006. Thông qua phƣơng pháp phân tích hồi quy bình phƣơng nhỏ nhất (OLS), họ nhận thấy rằng nắm giữ tiền mặt của REIT tỷ lệ nghịch với chi phí hoạt động, đòn bẩy tài chính và tƣ vấn nội bộ, và có liên quan trực tiếp đến chi phí tài trợ bên ngoài và triển vọng phát triển. Nắm giữ tiền mặt cũng có tƣơng quan âm với khả năng tiếp cận hạn mức tín dụng và sử dụng chúng. Kết quả ngụ ý rằng các nhà quản lý của REIT thích giữ ít tiền mặt để giảm những vấn đề đại diện của dòng tiền, do đó làm tãng tính minh bạch và giảm chi phí huy động vốn bên ngoài trong tƣơng lai.
8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN MẶT 1. Khái niệm tiền mặt, tiền mặt trong hoạt động SXKD Tiền mặt theo nghĩa hẹp, đó là tiền do Ngân hàng Trung ƣơng phát hành ra và nằm trong tay công chúng hay ngoài hệ thống ngân hàng. Còn theo nghĩa rộng nhất, tiền mặt có thể đƣợc hiểu là những thứ có thể sử dụng trực tiếp để thanh toán các giao dịch và bao gồm cả tiền gửi ngân hàng.
Nhƣ vậy, trong trƣờng hợp này khái niệm tiền mặt đƣợc dùng để chỉ dạng có khả năng thanh toán cao nhất của tài sản, bao gồm các đồng tiền do Ngân hàng Trung ƣơng phát hành ra và đƣợc công chúng giữ để chi tiêu, tiền gửi ở tài khoản vãng lai hay tài khoản tiền gửi không kì hạn, và có thể rút ra bất cứ lúc nào bằng cách viết séc. Theo đó, các nhà kinh tế định nghĩa tiền là bất cứ phƣơng tiện nào đƣợc thừa nhận chung để thanh toán cho việc mua bán, trao đổi hàng hoá dịch vụ hoặc thanh toán nợ nần. Trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, tiền mặt đƣợc hiểu bao gồm tiền tồn quỹ và tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở ngân hàng. Tiền mặt = Tiền mặt tồn quỹ + Tiền mặt trên tài khoản thanh toán Tiền mặt là một thành phần quan trọng trong tài sản lƣu động, nằm ở dòng đầu tiên của bảng cân đối kế toán, thể hiện là tài sản mang tính thanh khoản cao nhất trong các tài sản.
Nợ Nợ Tài sản lưu Tiền Vốn chủ Tài sản = dài + + ngắn - động khác - mặt sở hữu cố định hạn hạn ngoài tiền mặt 9 1. Lợi ích và chi phí của việc nắm giữ tiền mặt Lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt: Trong hoạt động kinh doanh, việc nắm giữ tiền mặt có những lợi thế nhƣ sau: - Hƣởng lợi thế chiết khấu khi mua hàng hóa dịch vụ: Trong các hoạt động thƣơng mại, khi doanh nghiệp trả tiền sớm, sẽ đƣợc hƣởng lợi thế chiết khấu thƣơng mại hoặc chiết khấu thanh toán. - Duy trì tốt các chỉ số thanh toán ngắn hạn, giúp doanh nghiệp có thể mua hàng với những điều kiện thuận lợi và đƣợc hƣởng mức tín dụng rộng rãi. - Giúp doanh nghiệp tận dụng đƣợc những cơ hội thuận lợi trong kinh doanh do chủ động trong các hoạt động thanh toán chi trả.
- Giúp doanh nghiệp đáp ứng đƣợc nhu cầu trong trƣờng hợp xảy ra các cú sốc bất lợi, chẳng hạn nhƣ đình công, hỏa hạn, chiến dịch marketing của các đối thủ cạnh tranh, vƣợt qua khó khăn do yếu tố thời vụ và chu kỳ kinh doanh. - Tạo tín hiệu tốt cho nhà đầu tƣ: Nhà đầu tƣ không phải là ngƣời bên trong doanh nghiệp nên thông thƣờng nếu nhìn thấy khoản mục tiền mặt trên bảng cân đối kế toán nhiều bao giờ cũng yên tâm hơn so với các doanh nghiệp có lƣợng tiền mặt ít hơn. Nhất là khi qua các quý, hoặc qua các năm, lƣợng tiền mặt tăng lên đều đặn và ổn định, nó là một tín hiệu cho thấy doanh nghiệp đang hoạt động rất tốt, đang phát triển rất mạnh. Chi phí của việc nắm giữ tiền mặt: Mặc dù nắm giữ tiền mặt đem lại những lợi ích trong trƣờng hợp doanh nghiệp thiếu tiền hoặc có cơ hội đầu tƣ với dự án có NPV dƣơng, thì vẫn có hai chi phí chính phát sinh nếu doanh nghiệp nắm giữ quá nhiều tiền mặt, đó là: 10 - Chi phí nắm giữ: Khi công ty nắm giữ lƣợng tiền mặt nhất định sẽ chịu loại chi phí nắm giữ do tỷ lệ sinh lời trực tiếp trên tiền mặt là bằng không cộng với ảnh hƣởng của lạm phát làm mất giá đồng tiền.
- Chi phí cơ hội: chính là khoản lợi nhuận có thể có đƣợc nếu đem tiền mặt đi đầu tƣ. Cụ thể, các doanh nghiệp có thể phải từ bỏ những dự án có NPV dƣơng để nắm giữ lƣợng tiền mặt, từ đó doanh nghiệp này bỏ qua cơ hội đầu tƣ tốt nhằm tối đa hóa tài sản cho các cổ đông. Chi phí cơ hội có thể đƣợc tính bằng khoản lợi tức thông qua lãi suất của chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao. Mặt khác, dự trữ quá nhiều tiền mặt cũng làm tăng chi phí đại diện giữa nhà quản lý và ngƣời chủ trong doanh nghiệp.
Chi phí đại diện này xuất hiện trong trƣờng hợp mục tiêu của nhà quản lý và cổ đông không đồng nhất. Theo Jensen (1986), nhà quản lý sẽ nắm giữ tiền mặt và không đầu tƣ vào các dự án tối ƣu vì tâm lý e ngại rủi ro, hay là đầu tƣ vào những dự án đem lại lợi nhuận cho bản thân, hoặc tích lũy tiền mặt, gia tăng tài sản kiểm soát. Sự luân chuyển của tiền mặt trong quá trình SXKD Hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp đƣợc bắt đầu bằng tiền mặt.