Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
- Lý do chọn đề tài: Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách an sinh xã hội (ASXH) quan trọng của Đảng và Nhà nước, giữ vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội ở nước ta. Chính sách BHYT được tổ chức thực hiện không vì mục đích lợi nhuận, nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng để chia sẻ rủi ro tài chính cho các thành viên trong xã hội khi ốm đau, bệnh tật. Tính đến hết năm 2023, cả nước có trên 93,3 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ 93,35% dân số (vượt 0,15% so với Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ). Trong lộ trình tiến tới BHYT toàn dân, BHYT hộ gia đình (HGĐ) giữ vị trí trung tâm. Thị xã Thái Hòa (tỉnh Nghệ An) là đô thị trung tâm vùng Tây Bắc của tỉnh, đã tích cực triển khai chính sách này và đạt nhiều kết quả tích cực nhưng cũng bộc lộ những hạn chế, vướng mắc cần khắc phục. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Phạm Thị Thanh Hiền lựa chọn đề tài "Pháp luật về bảo hiểm y tế hộ gia đình và thực tiễn thực hiện tại thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An" làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật An sinh xã hội.
- Mục tiêu nghiên cứu: Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về BHYT HGĐ; phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện tại thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An; chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tại địa phương.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận về BHYT HGĐ: khái niệm BHYT, BHYT HGĐ; ý nghĩa, vai trò của BHYT HGĐ trong hệ thống chính sách, pháp luật về BHYT và hệ thống ASXH của Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về BHYT HGĐ.
- Phân tích, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, thu thập số liệu thực tế, đánh giá quá trình thực hiện chính sách BHYT HGĐ tại thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An gắn với đặc điểm địa phương; nhận định kết quả đạt được cũng như tồn tại, hạn chế của pháp luật BHYT HGĐ.
- Nghiên cứu, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHYT HGĐ tại thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật về BHYT HGĐ ở Việt Nam (Luật BHYT năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành) cùng quá trình áp dụng, thực hiện pháp luật về BHYT HGĐ trên địa bàn thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu các quy định về đối tượng tham gia, mức đóng, phương thức đóng, phạm vi và mức hưởng, thủ tục thanh toán, tổ chức thực hiện và cơ chế tài chính thực hiện BHYT HGĐ. Do thực tiễn tại thị xã Thái Hòa trong giai đoạn nghiên cứu chưa phát sinh hành vi vi phạm nghiêm trọng và tranh chấp về BHYT HGĐ, khóa luận không đi sâu vào nội dung thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp.
- Về không gian: Địa bàn thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
- Về thời gian: Giai đoạn 2019 - 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
- Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý:
- Tiếp cận BHYT dưới ba góc độ: góc độ xã hội (công cụ tiếp cận dịch vụ y tế bình đẳng, liên kết lợi ích và củng cố đoàn kết xã hội), góc độ kinh tế (phương thức chi trả chi phí y tế và chia sẻ rủi ro theo định nghĩa của Cơ quan Phát triển Quốc tế Anh - DFID), và góc độ pháp lý (chế độ bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Công ước số 102 năm 1952 và Công ước số 130 năm 1969 của Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO; Điều 39 Hiến pháp năm 2013).
- Khái niệm BHYT theo Từ điển Bách khoa Việt Nam và khoản 1 Điều 2 Luật BHYT năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Khái niệm và tiêu chí hộ gia đình tham gia BHYT căn cứ khoản 2 Điều 37 và Điều 10 Luật Cư trú năm 2020, Nghị định số 146/2018/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 104/2022/NĐ-CP và Nghị định số 75/2023/NĐ-CP), Nghị định số 24/2023/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở, cùng các thông tư và văn bản nghiệp vụ hướng dẫn của Bộ Y tế, BHXH Việt Nam (Công văn 777/BHXH-BT, Công văn 3170/BHXH-BT, Công văn 627/BYT-BH...).
- Chính sách hỗ trợ đặc thù của địa phương: Nghị quyết số 14/2020/NQ-HĐND ngày 13/11/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVII quy định mức hỗ trợ đóng BHYT cho một số đối tượng trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 - 2025.
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về chính sách BHYT, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích: Sử dụng xuyên suốt để làm rõ các vấn đề lý luận về BHYT HGĐ, phân tích quy định của pháp luật hiện hành, xác định nguyên nhân của những bất cập và xây dựng hệ thống giải pháp.
- Phương pháp tổng hợp, thống kê: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2 nhằm thu thập, xử lý và hệ thống hóa chuỗi số liệu thực tế về dân số, số người tham gia BHYT HGĐ và tình hình thu - chi trên địa bàn thị xã Thái Hòa.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với kinh nghiệm quốc tế (Đức, Hàn Quốc, Thái Lan) và so sánh số liệu thực tế qua các năm tại thị xã Thái Hòa nhằm đánh giá biến động và tìm ra tồn tại.
- Nguồn dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Y tế; văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nghệ An; số liệu báo cáo định kỳ của BHXH thị xã Thái Hòa, BHXH tỉnh Nghệ An; niên giám và cổng thông tin điện tử của UBND thị xã Thái Hòa; các giáo trình, sách chuyên khảo và bài báo khoa học chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về bảo hiểm y tế hộ gia đình và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
- Vấn đề lý luận: Khẳng định BHYT HGĐ là bộ phận cấu thành quan trọng của chính sách BHYT và hệ thống an sinh xã hội. Tác giả chỉ rõ các đặc trưng cơ bản: đối tượng tham gia được xác định dựa trên tiêu chí quản lý cư trú (không đồng nhất với khái niệm HGĐ trong quan hệ dân sự hay đất đai); mức đóng có sự hỗ trợ giảm trừ bậc thang nhằm khuyến khích toàn bộ thành viên cùng tham gia; mục tiêu trọng tâm là mở rộng diện bao phủ BHYT sang khu vực lao động phi chính thức. Pháp luật về BHYT HGĐ vận hành theo các nguyên tắc phi lợi nhuận, mức đóng dựa trên thu nhập và số lượng thành viên, phạm vi hưởng gắn với mức độ bệnh tật và thời gian tham gia, quỹ BHYT được quản lý tập trung và thống nhất.
- Quy định pháp luật hiện hành:
- Đối tượng tham gia: Căn cứ khoản 2 Điều 37 Luật Cư trú năm 2020 và Nghị định số 104/2022/NĐ-CP, đối tượng gồm những người cùng đăng ký thường trú hoặc tạm trú tại một chỗ ở hợp pháp, trừ các cá nhân đã tham gia theo các nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, tổ chức BHXH đóng, ngân sách nhà nước (NSNN) đóng hoặc hỗ trợ mức đóng; cùng các nhóm đặc thù như chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người sinh sống tại cơ sở bảo trợ xã hội.
- Mức đóng và phương thức đóng: Mức đóng tối đa bằng 6% mức lương cơ sở. Điểm e khoản 1 Điều 7 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP quy định cơ chế giảm trừ mức đóng: người thứ nhất đóng 4,5% mức lương cơ sở (81.000 đồng/tháng theo mức lương cơ sở 1.800.000 đồng từ ngày 01/7/2023); người thứ hai, ba, tư đóng lần lượt bằng 70% (56.400 đồng), 60% (48.200 đồng), 50% (40.000 đồng) mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% (32.400 đồng). Phương thức đóng linh hoạt định kỳ 03 tháng, 06 tháng hoặc 12 tháng thông qua người đại diện hộ gia đình.
- Chế độ hưởng: Phạm vi hưởng gồm khám bệnh, chữa bệnh (KCB), phục hồi chức năng, khám thai định kỳ, sinh con (loại trừ 12 trường hợp theo Điều 23 Luật BHYT). Mức hưởng đúng tuyến đạt 100% chi phí KCB khi khám tại tuyến xã, chi phí một lần thấp hơn 15% lương cơ sở (270.000 đồng), hoặc người có thời gian tham gia 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở; các trường hợp khác hưởng 80%. Khi tự đi KCB không đúng tuyến: quỹ chi trả 100% chi phí KCB tại bệnh viện tuyến huyện, 100% chi phí điều trị nội trú tại tuyến tỉnh và 40% chi phí điều trị nội trú tại tuyến trung ương.
- Tài chính và quản lý quỹ: Quỹ BHYT phân bổ 90% cho quỹ KCB và chăm sóc sức khỏe ban đầu, 10% cho quỹ dự phòng và chi phí quản lý (chi phí quản lý tối đa 5%, quỹ dự phòng tối thiểu 5%). Năm 2023, tổng số chi quỹ BHYT toàn quốc đạt 124,3 nghìn tỷ đồng với hơn 174,8 triệu lượt KCB.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An
- Khái quát địa bàn và tổ chức bộ máy: Thị xã Thái Hòa được thành lập từ năm 2008, diện tích tự nhiên 13.514,36 ha, quy mô dân số năm 2023 là 69.193 người, gồm 4 phường và 5 xã. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 8,16% (năm 2023 đạt 7,4%), giá trị tăng thêm bình quân đầu người năm 2023 đạt 57,6 triệu đồng/người/năm. BHXH thị xã Thái Hòa có 17 biên chế và 02 hợp đồng lao động, do Giám đốc Vương Đình Nhật trực tiếp phụ trách điều hành.
- Các yếu tố ảnh hưởng:
- Khách quan: Quy định pháp luật thay đổi từ quản lý sổ hộ khẩu giấy sang quản lý cư trú điện tử; tốc độ đô thị hóa nhanh; hơn 50% dân cư sinh sống ở khu vực nông thôn với nghề nghiệp chủ yếu là nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, lao động tự do; cơ cấu bệnh tật tập trung vào các bệnh thông thường (hô hấp, tiêu hóa, xương khớp).
- Chủ quan: Sự chỉ đạo của chính quyền địa phương và tác động từ Nghị quyết số 14/2020/NQ-HĐND tỉnh Nghệ An (hỗ trợ thêm 30% mức đóng cho đối tượng nông, lâm, ngư nghiệp có mức sống trung bình theo lộ trình hỗ trợ 10% năm 2021, 15% năm 2022 và 20% giai đoạn 2023 - 2025); công tác tuyên truyền trực tiếp tại các khối/xóm và ứng dụng VssID - BHXH số; quy chế phối hợp giữa BHXH với Đoàn Thanh niên (ký kết giai đoạn 2023 - 2027), Hội Phụ nữ, Hội Nông dân và Bưu điện thị xã.
- Kết quả thực hiện giai đoạn 2019 - 2023:
- Số lượng người tham gia BHYT HGĐ tại thị xã tăng đều qua các năm: năm 2019 đạt 16.814 người (chiếm 25,42% dân số); năm 2020 đạt 17.660 người (26,36%); năm 2021 đạt 19.476 người (28,73%); năm 2022 đạt 20.593 người (30,04%); năm 2023 đạt 22.038 người (31,85% dân số). Giai đoạn 2020 - 2021 có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất nhờ chính sách trợ lực từ Nghị quyết số 14/2020/NQ-HĐND và nhận thức phòng chống dịch bệnh của người dân tăng cao trong đại dịch Covid-19.
- Mạng lưới đại lý thu được mở rộng tại tất cả các xã, phường và điểm bưu điện văn hóa, tạo thuận lợi cho người dân đăng ký, đóng nộp tiền và nhận thẻ BHYT.
- Hạn chế và nguyên nhân: Một số bộ phận người dân lao động tự do thu nhập bấp bênh chỉ đăng ký tham gia BHYT khi phát sinh ốm đau; công tác quản lý đối tượng theo dữ liệu cư trú điện tử đôi lúc chưa đồng bộ kịp thời; chính sách thông tuyến tỉnh điều trị nội trú tạo áp lực gia tăng lượt điều trị nội trú, tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối quỹ BHYT tại địa phương.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Việt Nam về bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An
- Yêu cầu hoàn thiện: Đảm bảo phù hợp với định hướng mở rộng diện bao phủ BHYT toàn dân, giữ vững an toàn tài chính quỹ BHYT và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tuyến cơ sở.
- Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
- Về đối tượng tham gia: Bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể về quyền và thủ tục tham gia BHYT HGĐ đối với cá nhân người nước ngoài đang thường trú hoặc tạm trú hợp pháp tại Việt Nam không thuộc diện tham gia BHYT bắt buộc tại doanh nghiệp.
- Về phạm vi và mức hưởng: Rà soát, mở rộng phạm vi quyền lợi y tế cơ bản (chăm sóc sức khỏe ban đầu, sàng lọc, chẩn đoán sớm); xem xét bãi bỏ quy định loại trừ chi trả BHYT đối với trường hợp thảm họa tại khoản 9 Điều 23 Luật BHYT vì đây là rủi ro khách quan, bất ngờ đối với người dân.
- Về cơ chế thanh toán và giám định: Đổi mới phương thức thanh toán chi phí KCB (kết hợp định suất và thanh toán theo nhóm ca bệnh, giảm dần thanh toán theo phí dịch vụ); nâng cao năng lực và trách nhiệm của đội ngũ giám định viên BHYT.
- Về quản lý phân cấp: Ban hành cơ chế giao chỉ tiêu và trách nhiệm cụ thể cho chính quyền cấp xã, phường trong việc rà soát, theo dõi biến động đối tượng tham gia BHYT HGĐ trên địa bàn.
- Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện tại thị xã Thái Hòa:
- Đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền chính sách BHYT HGĐ theo từng nhóm dân cư; phát huy hiệu quả các thỏa thuận phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ và Hội Nông dân.
- Xây dựng và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ chuyên trách, bồi dưỡng nghiệp vụ cho nhân viên đại lý thu tại các xã, phường và bưu điện.
- Rà soát, tối giản hóa thủ tục đăng ký tham gia, thanh toán và rút ngắn thời gian cấp thẻ BHYT.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia kết nối với phần mềm quản lý thu BHXH và đẩy mạnh cài đặt ứng dụng VssID - BHXH số.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát liên ngành việc tổ chức KCB BHYT tại các cơ sở y tế trên địa bàn nhằm phòng ngừa lạm dụng, trục lợi quỹ.
Kết quả và đóng góp
- Số liệu thống kê người tham gia BHYT HGĐ tại thị xã Thái Hòa (2019 - 2023):
| Năm |
Tổng số dân (người) |
Số người tham gia BHYT HGĐ (người) |
Tỷ lệ tham gia BHYT HGĐ / Tổng dân số (%) |
| 2019 |
66.127 |
16.814 |
25,42% |
| 2020 |
66.987 |
17.660 |
26,36% |
| 2021 |
67.781 |
19.476 |
28,73% |
| 2022 |
68.542 |
20.593 |
30,04% |
| 2023 |
69.193 |
22.038 |
31,85% |
- Bảng mức đóng BHYT hộ gia đình theo mức lương cơ sở 1.800.000 đồng/tháng (áp dụng từ 01/7/2023):
| Thứ tự thành viên trong HGĐ |
Tỷ lệ đóng so với người thứ nhất (%) |
Mức đóng theo tháng (VNĐ/tháng) |
Mức đóng theo năm (VNĐ/năm) |
| Người thứ nhất |
100% (4,5% lương cơ sở) |
81.000 |
972.000 |
| Người thứ hai |
70% |
56.400 |
676.800 |
| Người thứ ba |
60% |
48.200 |
578.400 |
| Người thứ tư |
50% |
40.000 |
480.000 |
| Người thứ năm trở đi |
40% |
32.400 |
388.800 |
- Đóng góp khoa học và thực tiễn:
- Về mặt khoa học: Hệ thống hóa toàn diện các luận cứ lý luận và cơ sở pháp lý về BHYT HGĐ trong bối cảnh thực hiện Luật Cư trú năm 2020; làm rõ bản chất tương trợ xã hội và cơ chế tài chính của chính sách BHYT HGĐ.
- Về mặt thực tiễn: Đây là công trình đầu tiên khảo sát, đánh giá thực chứng việc thực hiện pháp luật BHYT HGĐ tại địa bàn thị xã Thái Hòa giai đoạn 2019 - 2023. Các phát hiện và kiến nghị giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật (về đối tượng người nước ngoài, loại trừ thảm họa, phân bổ quỹ) cùng các giải pháp tổ chức thực hiện tại địa phương cung cấp tư liệu tham khảo có giá trị cho cơ quan quản lý nhà nước và BHXH các cấp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu thực tiễn tập trung tại thị xã Thái Hòa (tỉnh Nghệ An) trong giai đoạn 2019 - 2023, do đó các số liệu và đặc điểm khảo sát mang tính đặc thù của một đô thị miền núi thuộc tỉnh Nghệ An. Đề tài không đi sâu nghiên cứu công tác thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp pháp lý do trên địa bàn thị xã trong giai đoạn khảo sát chưa ghi nhận các vụ việc tranh chấp BHYT HGĐ chính thức.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh thực tiễn thực thi chính sách BHYT HGĐ giữa các vùng kinh tế - xã hội khác nhau (đô thị lớn, nông thôn đồng bằng và miền núi); đánh giá tác động của các văn bản pháp luật mới sửa đổi (như Luật Khám bệnh, chữa bệnh và dự thảo Luật BHYT sửa đổi tiếp theo); nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế quản trị rủi ro quỹ BHYT trong điều kiện các bệnh viện công lập thực hiện tự chủ tài chính hoàn toàn.
Giá trị tham khảo
- Đối với sinh viên, học viên ngành Luật, Quản lý An sinh xã hội: Cung cấp tài liệu tham khảo có cấu trúc hoàn chỉnh về phương pháp luận nghiên cứu đề tài pháp lý kết hợp đánh giá số liệu thực chứng cấp cơ sở.
- Đối với cán bộ quản lý an sinh xã hội và cơ quan BHXH cấp huyện/thị xã: Tham khảo các kinh nghiệm thực tế trong việc mở rộng đối tượng tham gia BHYT HGĐ, tổ chức mạng lưới đại lý thu, phối hợp liên ngành giữa BHXH với các tổ chức chính trị - xã hội và quy trình xử lý thủ tục hành chính.
- Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xem xét điều chỉnh các vướng mắc pháp lý về đối tượng tham gia BHYT HGĐ, quyền lợi y tế cơ bản và cơ chế tài chính quản lý quỹ BHYT.
Câu hỏi thường gặp
Đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình theo quy định hiện hành bao gồm những ai?
Theo khoản 2 Điều 37 Luật Cư trú năm 2020 và Điều 5 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định số 104/2022/NĐ-CP), đối tượng tham gia BHYT HGĐ là những người cùng đăng ký thường trú hoặc cùng đăng ký tạm trú tại một chỗ ở hợp pháp, trừ các cá nhân đã tham gia BHYT thuộc nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, do tổ chức BHXH đóng, do NSNN đóng hoặc được NSNN hỗ trợ mức đóng. Ngoài ra, chức sắc, chức việc, nhà tu hành và người sinh sống trong cơ sở bảo trợ xã hội (không được NSNN hỗ trợ đóng) cũng thuộc nhóm tham gia theo hình thức HGĐ.
Mức đóng BHYT HGĐ được tính toán và giảm trừ như thế nào theo mức lương cơ sở hiện nay?
Căn cứ Nghị định số 146/2018/NĐ-CP và Nghị định số 24/2023/NĐ-CP (lương cơ sở 1.800.000 đồng/tháng), mức đóng hàng tháng của người thứ nhất bằng 4,5% lương cơ sở (81.000 đồng/tháng). Các thành viên tiếp theo trong cùng hộ gia đình tham gia trong năm tài chính được giảm trừ: người thứ hai đóng 70% (56.400 đồng/tháng); người thứ ba đóng 60% (48.200 đồng/tháng); người thứ tư đóng 50% (40.000 đồng/tháng); từ người thứ năm trở đi đóng 40% (32.400 đồng/tháng).
Tỷ lệ tham gia BHYT HGĐ tại thị xã Thái Hòa biến động như thế nào trong giai đoạn 2019 - 2023?
Số người tham gia BHYT HGĐ tại thị xã Thái Hòa tăng liên tục qua các năm: năm 2019 có 16.814 người (chiếm 25,42% dân số); năm 2020 đạt 17.660 người (26,36%); năm 2021 đạt 19.476 người (28,73%); năm 2022 đạt 20.593 người (30,04%); và năm 2023 đạt 22.038 người (31,85% dân số). Giai đoạn 2020 - 2021 có tốc độ gia tăng người tham gia nhanh nhất nhờ chính sách hỗ trợ đóng BHYT theo Nghị quyết số 14/2020/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Nghệ An.
Nguồn tiền đóng BHYT được phân bổ vào các quỹ thành phần như thế nào?
Theo Điều 35 Luật BHYT năm 2014 và Điều 31 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP, 90% số tiền đóng BHYT được phân bổ vào quỹ KCB để chi trả chi phí KCB cho người tham gia và trích cho công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại các cơ sở đủ điều kiện; 10% còn lại được dành cho quỹ dự phòng và chi phí quản lý quỹ BHYT (trong đó chi phí quản lý tối đa bằng 5% số tiền đóng BHYT, phần còn lại dành cho quỹ dự phòng nhưng tối thiểu bằng 5%).
Tác giả đề xuất những giải pháp lập pháp trọng tâm nào nhằm hoàn thiện quy định về BHYT HGĐ?
Khóa luận đề xuất các kiến nghị lập pháp cụ thể: bổ sung quy định rõ ràng về quyền tham gia BHYT HGĐ đối với người nước ngoài đang cư trú hợp pháp tại Việt Nam; rà soát mở rộng danh mục quyền lợi y tế cơ bản và sửa đổi quy định loại trừ chi trả trong trường hợp rủi ro thảm họa tại khoản 9 Điều 23 Luật BHYT; cải cách phương thức thanh toán chi phí KCB kết hợp định suất và ca bệnh; đồng thời hoàn thiện cơ chế phân cấp trách nhiệm quản lý đối tượng cho chính quyền cấp xã, phường.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Thanh Hiền đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận và các quy định pháp luật hiện hành về BHYT hộ gia đình, đồng thời phân tích chi tiết thực tiễn triển khai tại thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2019 - 2023. Công trình đã làm rõ những thành tựu về gia tăng tỷ lệ bao phủ đối tượng gắn liền với các chính sách hỗ trợ đặc thù của địa phương, đồng thời chỉ ra các hạn chế trong khâu quản lý dân cư và giám sát quỹ. Các giải pháp và kiến nghị được đưa ra trong đề tài có tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách BHYT toàn dân.