10112478 XUẤT BẢN GIÁO DỤG VIỆT NAM PGS. NGUYEN HỮU CHi (chi bién) GIAO TRINH LUAT AN SINH XA HOI NHA XUAT BAN GIAO DUC VIET NAM Lời giới thiệu.--ccccccisrrisikrirrerrke TH ng TH ETE111111 1H11 1107110711111. 5 _ EHƯƯNG 1: KHAI QUAT VE LUAT AN SINH XA HOI VIETNAM | —Khdi nim luat an sinh xã hội Việt Nam.11eee 7 1 — Quan hệ pháp luật an sinh xã hội 3 Câu hỏi ôn tập se stn ¬. 61 CHUUNG 2: BAO HIEM XA HOI.
PHAN I: NHUNG VAN ĐỂ CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI I — Khái quát chung về bảo hiểm xã hội. 62 lI - Nguyên tắc của bảo hiểm xã hội.--: nhe 76 II Phân loại bảo hiểm xã hội. gato 80: IV — TO chite bao WM XA ăn. 82 PHAN I: CAC CHE ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI 001.
86 I ~ Bảo hiểm xã hội tự nguyện. - LH HH HH HH kg 410 TI = Bao idm tht nghi8p vo. 114 Câu hỏi ôn tập ¬. CHUUNG 3: BAO HEM Y TẾ | — Khái quát chung về bảo hiểm y tế.
cà t1 HH n1 hà 425 lI~ Chế độ bảo hiểm y tế. 1Ó HƯƠNG 4: ƯU ĐÃI XÃ HỘI †— Khái quát về ưu đãi xã hội. 154 lI— Đối tượng ưu đãi xã hội. S9 s1 1E1xrrtrtrtrrreeerred _ 465 Ill ~ NOI dung ché d6 50.
176 CU NOI ON TAD eeesssssssecsssesscssssssssssessesssesssesenssessestesesrsees “ 184 HƯƠNG 5: PHẾ BỘ BẢO TRỤ XÃ HỘI I— Khái quát về chế độ bảo trợ xã hội.--- ¡kg ng re 485 lI- Nội dung cơ bản của chế độ bảo trợ xã hội.eeiiiiiiesiirririrrriiileiimrrrim 198 tú Hàn HH HH. 205 IIl — Tài chính thực hiện chế độ bảo trợ xã hội. IV - Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội. TH TH TH k HH TH 13k SE BE T1 kg rtkt 207 Câu hỗi ôn lập._Ô mm “ 213 CHUUNG 6: TRANH CHAP VA GIẢI QUYET TRANH CHAP AN SINH XA HỘI I~ Một số vấn đề chung về tranh chấp an sinh xã hội.creeeerreerierrrriee 214 I - Giải quyết tranh chấp an sinh xã hội.o 55c Hướng re 226 Câu hồi ôn lập.
ch go HH Hàn HH HH HH1 1e 295 An sinh xã hội là nhu cẩu thiết yếu của người dân trong bất cứ xã hội nào và trách nhiệm lớn nhất trong lĩnh vực này thuộc về nhà nước. Đề thực biện an sinh xã hội cho các thành viên của mình. Nhà nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau, một trong những công cụ có hiệu quả nhất là pháp luật. Pháp luật _ gn sinh xã hội ở Việt Nam chỉ thực su duoc quan tam ca vé chat và lượng trong thời gian gân đây.
Vì vậy, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về pháp luật an sinh xã hội là một nhu cầu cấp thiết của khoa học pháp lý nước ta. Môn học Luật an sinh xã hội được nhiều cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam đưa vào chương trình giảng dạy, nghiên cứu ở các hệ và loại hình đào tạo khác nhau. Nhằm cung cấp nguôn tài liệu tham khảo và tài liệu nghiên cứu, học tập môn học này, nhóm tác giả thuộc Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Huế, Bộ Tư pháp đã phối hợp tổ chức biên soạn Giáo trình Luật an sinh xã hội. | Dù được biên soạn với sự nghiêm túc, cẩn trong song chắc chắn giáo trình khó tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết.
Tập thể tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của: dong nghiép, hoc vién va ban doc để giáo trình được hoàn thiện trong các lấn tái bản. Mọi góp ý xin gửi về Công ty CP Sách Đại học - Dạy nghề, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 25 Hàn Thuyên - Hà Nội. Xin trần trọng cảm on! | che rhe eu HƯƠNG ï | KHAI QUAT VE LUAT AN SINH XA HOI VIET NAM I- KHÁI NIỆM LUẬT AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM 1. Đối tượng điều chỉnh của Luật An sinh xã hội Việt Nam a) Khái niệm và các bộ phận cầu thành an sinh xã hội Su ton tai va phat triển của con người và xã hội loài người bắt đầu từ: những việc như ăn, mặc, ở.
Đó là những nhu cầu tôi thiểu và thiết yếu của con người, có thể đạt được bằng nhiều cách khác nhau, trong đó lao động làm ra của cải vật chất được coi là cách tích cực và lâu bền nhất để con. người thỏa mãn các nhụ cầu cuộc sống của mình. Của cải xã hội càng nhiều thì mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng gặp thuận lợi, cũng có thể lao động tạo ra được thu nhập.
Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất hạnh, rủi ro xây ra làm cho con người bị giảm, mắt thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác (ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, chiến tranh, dịch bệnh, tử vong. Hơn nữa, cuộc sống của con người phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội. Khi điều kiện tự nhiên và _ xã hội không thuận lợi đã làm cho một bộ phận dân cư cần phải có sự giúp đỡ bởi người này hay người khác, bằng cách này hay cách khác để bảo đảm cuộc sống bình thường. Từ xa xưa, trước những khó khăn, rỏi ro trong cuộc sống, con người đã tự khắc phục theo kiểu “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”.
Bên cạnh đó, còn có sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng. Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Xã hội càng phát triển, mang đến cho cuộc sống của con người nhiều cơ hội phát triển, nhưng đi liền với nó là không ít những rủi ro hoặc nguy cơ rủi ro trên tất cả các lĩnh vực và phương diện mà con người phải đối mặt, cần có những hoạt động nhất định để phòng ngừa, khống chế và khắc phục những hậu quả do - nó gây ra. Đó chính là phạm vi của công tác an sinh xã hội theo cách gọi ngày nay.
TỪ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống an sinh xã hội đã có những cơ sở để hình thành và phát triển. Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người lao động làm công ăn lương tăng lên một cách đáng kể, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại. Sự hãng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già. đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường của những người lao động này.
Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn.); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có bảo trợ bảo đảm cuộc sống cho họ. Những yếu tổ đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của Nhà nước và buộc Nhà nước cũng phải vào cuộc vì một xã hội ổn định và phát triển. Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều Bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh: tật. Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp (mà hiện nay chúng ta gọi là bảo hiểm xã hội bắt buộc).
Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các. hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật. Đến cuối những năm 1880, an sinh xã hội (lúc này là bảo hiểm xã hội) đã có bước phát triển mới. Không chỉ người lao động phải đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội, mà cả người sử dụng lao động và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người lao động và đối với cộng đồng xã hội.
Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, an sinh xã hội đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê. Ngoài bảo hiểm xã hội, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục 8 phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người goá bụa và những người không may gặp rủi ro vì thiên tai, hoả hoạn. Các dịch vụ xã hội như dịch vu y tế, dự phòng tai nạn, dự phòng y tế tái thích ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ trẻ em.
được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức, chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính và quản lý khác nhau. Hệ thống an sinh xã hội được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó bảo hiểm xã hội là trụ cột chính. Đạo luật đầu tiên về an sinh xã hội (Social Security) trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ? Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ an sinh xã hội trong các công ước quốc tế.
Đến nay, an sinh xã hội đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người. Nội dung của an sinh xã hội cũng đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948. An sinh xã hội được dịch bởi từ “Social Security” trong tiếng Anh. Tuy nhiên, ngoài thuật ngữ “an sinh xã hội” thì một số địch giả khác nhau còn địch là “bảo đảm xã hội”, “bảo trợ xã hội”, “an ninh xã hội”, “an toàn xã hội”.
với những ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau. Theo nghĩa chung nhất, “Social Security” là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, đi chuyên, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già. Theo nghĩa này thì phạm vi của “Social Security” rất rộng.