Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những trụ cột then chốt của hệ thống an sinh xã hội, giữ vai trò bảo đảm đời sống cho người lao động khi đối mặt với các rủi ro làm suy giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc khi hết tuổi lao động. Tại Việt Nam, phụ nữ chiếm tỷ trọng đáng kể trong lực lượng lao động xã hội, trực tiếp tham gia sản xuất và đóng góp vào sự phát triển kinh tế. Bên cạnh tư cách là người lao động bình đẳng, lao động nữ còn đảm nhận thiên chức mang thai, sinh nở và tái sản xuất sức lao động cho xã hội. Do đó, việc xây dựng và thực thi các quy định pháp luật BHXH đặc thù cho lao động nữ là yêu cầu khách quan nhằm bảo vệ thể trạng, hỗ trợ thu nhập và thúc đẩy bình đẳng giới.
Tuy nhiên, trước sự chuyển dịch của nền kinh tế thị trường, các quan hệ lao động ngày càng phát triển đa dạng, kéo theo nhiều vướng mắc trong việc bảo đảm đầy đủ các quyền lợi BHXH cho lao động nữ trên thực tế. Một số quy định của pháp luật hiện hành vẫn bộc lộ khoảng trống và bất cập, chưa bao quát hết các tình huống thực tiễn. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thị Hương (chuyên ngành Luật An sinh xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Tuyết Vân, thực hiện năm 2024) đã lựa chọn đề tài "Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ theo quy định của pháp luật Việt Nam".
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về BHXH và pháp luật BHXH điều chỉnh đối với lao động nữ.
- Khảo sát, phân tích và hệ thống hóa thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về các chế độ BHXH đối với lao động nữ, chỉ rõ các điểm tích cực và những hạn chế còn tồn tại.
- Đề xuất phương hướng cùng các nhóm giải pháp, khuyến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật BHXH đối với lao động nữ tại Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Lãnh thổ Việt Nam.
- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành dưới sự điều chỉnh của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu pháp lý chuẩn tắc (doctrinal legal research), kết hợp giữa cơ sở lý luận an sinh xã hội và kỹ thuật lập pháp thực định.
Về cơ sở lý luận và nền tảng pháp lý, công trình vận dụng:
- Các quan điểm pháp lý về quyền an sinh xã hội của công dân được ghi nhận tại Điều 34 Hiến pháp năm 2013;
- Tiêu chuẩn lao động quốc tế từ Công ước số 102 năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về quy chuẩn tối thiểu về an sinh xã hội; Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW);
- Khung văn bản quy phạm pháp luật quốc gia làm căn cứ trực tiếp: Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (Luật số 58/2014/QH13); Bộ luật Lao động năm 2019; Luật Bình đẳng giới năm 2006; Nghị định số 115/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật BHXH về BHXH bắt buộc; Nghị định số 33/2016/NĐ-CP đối với lực lượng vũ trang; Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH và Thông tư số 06/2021/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Nghị định số 24/2023/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích: Được áp dụng xuyên suốt ba chương nhằm mổ xẻ cấu trúc quy phạm, điều kiện hưởng, mức hưởng và cơ chế chi trả trợ cấp BHXH.
- Phương pháp so sánh: Sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 2 nhằm đối chiếu sự phát triển của pháp luật qua các thời kỳ lịch sử, làm rõ khác biệt giữa quy định trên văn bản và thực tiễn thi hành, đồng thời đối chiếu với tiêu chuẩn quốc tế.
- Phương pháp tổng hợp: Sử dụng ở phần kết luận từng chương và toàn khóa luận để đúc kết nhận định, phát hiện những bất cập mang tính hệ thống của pháp luật thực định.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các giáo trình chuyên khảo (Giáo trình Luật An sinh xã hội năm 2022 của Trường Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình Luật Lao động Việt Nam - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Giáo trình Kinh tế bảo hiểm - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) cùng hệ thống luận văn, bài viết trên Tạp chí Luật học của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực an sinh xã hội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội và pháp luật bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ
Chương 1 thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh về thể chế BHXH và vị trí pháp lý của lao động nữ:
- Lịch sử và bản chất của BHXH: Điểm lại quá trình hình thành hệ thống BHXH thế giới từ thời Thủ tướng Bismarck tại Phổ (Đức) vào cuối thế kỷ XIX (Luật về ốm đau năm 1883, Luật về tai nạn năm 1885, Luật về hưu trí năm 1888) đến quá trình phát triển tại Việt Nam từ Sắc lệnh 54/SL (1945), Điều 14 Hiến pháp năm 1946, Nghị định số 218/CP (1961), Bộ luật Lao động năm 1994, Luật BHXH năm 2006 đến Luật BHXH năm 2014. Tác giả phân tích khái niệm BHXH dưới góc độ kinh tế (quỹ tài chính phân phối lại thu nhập) và góc độ pháp lý (tổng hợp quy phạm điều chỉnh quan hệ trợ cấp thay thế hoặc bù đắp thu nhập theo khoản 1 Điều 3 Luật BHXH năm 2014).
- Các đặc điểm và nguyên tắc cơ bản: Khẳng định ba bên tham gia quan hệ BHXH (bên thực hiện, bên tham gia, bên thụ hưởng); bốn yếu tố cấu thành chế độ (đối tượng, điều kiện, mức hưởng, thời hạn); hai đặc trưng của quỹ BHXH (tính an toàn tài chính do Nhà nước bảo hộ và tính chất quỹ tiêu dùng cá nhân). Đồng thời làm rõ năm nguyên tắc vận hành: hưởng theo mức đóng và thời gian đóng kết hợp chia sẻ rủi ro; mức đóng căn cứ trên tiền lương hoặc thu nhập lựa chọn; tính liên thông giữa BHXH bắt buộc và tự nguyện; quản lý quỹ thống nhất, công khai, minh bạch; thủ tục giải quyết đơn giản, thuận tiện, kịp thời.
- Sự cần thiết bảo vệ lao động nữ: Phân tích khái niệm lao động nữ theo Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 và Luật Bình đẳng giới năm 2006. Tác giả chỉ rõ các đặc thù về mặt sinh học (thiên chức mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ), thể chất (trung bình yếu hơn nam giới, không phù hợp công việc nặng nhọc kéo dài), rào cản tâm lý - xã hội (định kiến giới, bất lợi về tiếp cận việc làm). Từ đó khẳng định BHXH đối với lao động nữ mang tính tất yếu nhằm bù đắp chi phí phát sinh, đảm bảo tái sản xuất sức lao động và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Chương 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ
Chương 2 là phần trọng tâm, tập trung rà soát và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh ba chế độ BHXH cốt lõi áp dụng cho lao động nữ:
1. Chế độ chăm sóc con ốm đau:
- Căn cứ khoản 2 Điều 25 Luật BHXH năm 2014, điều kiện hưởng là phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.
- Thời gian nghỉ tối đa trong một năm cho mỗi con (Điều 27 Luật BHXH năm 2014 và Điều 5 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH): Tối đa 20 ngày làm việc nếu con dưới 03 tuổi; tối đa 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 03 đến dưới 07 tuổi (tính theo ngày làm việc, không kể ngày nghỉ lễ, Tết, nghỉ hàng tuần). Văn bản quy định rõ cách xử lý khi có nhiều con cùng ốm, trường hợp cha mẹ cùng nghỉ hoặc luân phiên nghỉ.
- Mức hưởng: Căn cứ khoản 1 Điều 28 Luật BHXH năm 2014 và Điều 6 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, mức hưởng một ngày bằng 75% mức tiền lương tháng đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ chia cho 24 ngày, nhân với số ngày thực tế nghỉ việc.
- Bất cập: Yêu cầu bắt buộc phải có xác nhận y tế chỉ phù hợp khi điều trị nội trú, chưa đáp ứng trường hợp trẻ ốm nhẹ hoặc dịch bệnh điều trị ngoại trú tại nhà; thời gian nghỉ 15 - 20 ngày/năm chưa tương xứng với các bệnh lý cần theo dõi dài ngày; sự chênh lệch mức hưởng giữa nhóm 75% và nhóm 100% lương theo Điều 26.
2. Chế độ thai sản:
- Đối tượng và điều kiện hưởng (Điều 31): Lao động nữ mang thai, sinh con, nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ, hoặc người thực hiện biện pháp tránh thai. Điều kiện về thời gian đóng BHXH thông thường là đủ 06 tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi.
- Khám thai (Điều 32): Được nghỉ 05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp xa cơ sở y tế hoặc thai có bệnh lý được nghỉ 02 ngày/lần (tính theo ngày làm việc). Mức hưởng tính bằng bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ chia cho 24 ngày.
- Sảy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý (Điều 33): Thời gian nghỉ tối đa là 10 ngày (thai dưới 05 tuần tuổi), 20 ngày (từ 05 đến dưới 13 tuần), 40 ngày (từ 13 đến dưới 25 tuần), và 50 ngày (từ 25 tuần tuổi trở lên). Thời gian này tính cả ngày nghỉ lễ, Tết, nghỉ hàng tuần.
- Sinh con (Điều 34): Lao động nữ được nghỉ trước và sau sinh 06 tháng (nghỉ trước sinh tối đa không quá 02 tháng); sinh đôi trở lên cứ mỗi con thêm 01 tháng. Văn bản quy định chi tiết thời gian nghỉ khi con chết sau sinh, quyền lợi của lao động nam có vợ sinh con (5 đến 14 ngày làm việc) và chế độ khi người mẹ gặp rủi ro sau sinh. Lao động nữ có thể đi làm trước thời hạn sau khi đã nghỉ ít nhất 04 tháng và có sự đồng ý của người sử dụng lao động.
- Trợ cấp một lần khi sinh con (Điều 38): Bằng 02 lần mức lương cơ sở cho mỗi con tại tháng sinh.
- Chế độ đối với lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ (Điều 35, Nghị định 115/2015/NĐ-CP): Bảo đảm quyền lợi thai sản cho người mang thai hộ cho đến thời điểm giao con (tối thiểu đủ 60 ngày); người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ hưởng trợ cấp từ khi nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
- Biện pháp tránh thai (Điều 37): Đặt vòng tránh thai nghỉ 07 ngày; triệt sản nghỉ 15 ngày.
- Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản (Điều 41): Lao động nữ trong 30 ngày đầu làm việc mà sức khỏe chưa hồi phục được nghỉ từ 05 đến 10 ngày; mức hưởng một ngày bằng 30% mức lương cơ sở (theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP với lương cơ sở 1.800.000 đồng, mức hưởng là 540.000 đồng/ngày).
3. Chế độ hưu trí đối với lao động nữ:
- Điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng: Đóng BHXH từ đủ 20 năm trở lên và đạt độ tuổi luật định. Khóa luận phân tích lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ theo khoản 2 và khoản 3 Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019:
| Năm nghỉ hưu |
Lao động nữ (điều kiện bình thường) |
Lao động nữ (nặng nhọc, độc hại, vùng ĐB khó khăn) |
| 2021 |
Đủ 55 tuổi 04 tháng |
Đủ 50 tuổi 04 tháng |
| 2022 |
Đủ 55 tuổi 08 tháng |
Đủ 50 tuổi 08 tháng |
| 2023 |
Đủ 56 tuổi |
Đủ 51 tuổi |
| 2024 |
Đủ 56 tuổi 04 tháng |
Đủ 51 tuổi 04 tháng |
| 2025 |
Đủ 56 tuổi 08 tháng |
Đủ 51 tuổi 08 tháng |
| 2026 |
Đủ 57 tuổi |
Đủ 52 tuổi |
| 2027 |
Đủ 57 tuổi 04 tháng |
Đủ 52 tuổi 04 tháng |
| 2028 |
Đủ 57 tuổi 08 tháng |
Đủ 52 tuổi 08 tháng |
| 2029 |
Đủ 58 tuổi |
Đủ 53 tuổi |
| 2030 |
Đủ 58 tuổi 04 tháng |
Đủ 53 tuổi 04 tháng |
| 2031 |
Đủ 58 tuổi 08 tháng |
Đủ 53 tuổi 08 tháng |
| 2032 |
Đủ 59 tuổi |
Đủ 54 tuổi |
| 2033 |
Đủ 59 tuổi 04 tháng |
Đủ 54 tuổi 04 tháng |
| 2034 |
Đủ 59 tuổi 08 tháng |
Đủ 54 tuổi 08 tháng |
| Từ 2035 |
Đủ 60 tuổi |
Đủ 55 tuổi |
Chương 3. Khuyến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, Chương 3 định hình các quan điểm và giải pháp cụ thể:
- Định hướng: Hoàn thiện thể chế an sinh xã hội phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới thực chất và nâng cao mức độ bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013; đồng bộ hóa pháp luật BHXH với Bộ luật Lao động năm 2019 và các tiêu chuẩn quốc tế của ILO.
- Khuyến nghị hoàn thiện chế độ chăm sóc con ốm đau: Nới lỏng điều kiện hồ sơ chứng minh, bổ sung cơ chế xác nhận đối với trường hợp trẻ điều trị ngoại trú tại gia đình; nghiên cứu tăng khung thời gian nghỉ chăm sóc con đối với các bệnh lý cần thời gian điều trị kéo dài; điều chỉnh mức hưởng trợ cấp tiệm cận tỷ lệ 100% để hạn chế sụt giảm thu nhập của người mẹ.
- Khuyến nghị hoàn thiện chế độ thai sản: Tăng thời gian nghỉ khám thai cho các trường hợp mang thai có bệnh lý hoặc thai nhi phát triển không bình thường; cho phép cả cha và mẹ cùng chia sẻ thời gian nghỉ khi nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi nếu cả hai cùng tham gia BHXH; rà soát cách tính số ngày nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau sinh nhằm tránh thiệt thòi cho lao động nữ sinh nhiều con hoặc sức khỏe suy giảm nghiêm trọng.
- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành: Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật BHXH của người sử dụng lao động; nâng cao nhận thức pháp luật cho lao động nữ; cải cách thủ tục hành chính liên thông giữa cơ sở y tế và cơ quan BHXH nhằm tạo điều kiện thụ hưởng trợ cấp thuận lợi nhất.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể gắn với dữ liệu quy định trong văn bản:
- Hệ thống hóa toàn bộ các thông số kỹ thuật của chính sách BHXH dành cho lao động nữ: Tỷ lệ hưởng trợ cấp ốm đau chăm con (75% tiền lương tháng đóng BHXH liền kề); trợ cấp thai sản hàng tháng (100% mức bình quân tiền lương 06 tháng trước khi nghỉ); mức trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi bằng 02 lần mức lương cơ sở; mức trợ cấp dưỡng sức một ngày bằng 30% mức lương cơ sở (540.000 đồng/ngày theo mức lương cơ sở 1.800.000 đồng).
- Chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý thực định: Quy định cứng nhắc về giấy xác nhận y tế khi con ốm tại nhà; giới hạn thời gian nghỉ khám thai 02 ngày/lần chưa phù hợp ca bệnh nặng; quy định chỉ cho phép một người (cha hoặc mẹ) nghỉ chăm sóc con nuôi dưới 06 tháng tuổi chưa bảo đảm bình đẳng trong trách nhiệm gia đình; trần số ngày nghỉ dưỡng sức tối đa trong năm.
- So với các công trình nghiên cứu trước đây (như các luận văn thạc sĩ năm 2007, 2012, 2016 chủ yếu dựa trên Bộ luật Lao động năm 2002 hoặc Luật BHXH năm 2006 cũ), khóa luận của tác giả Đinh Thị Hương đã cập nhật toàn diện hệ thống quy định hiện hành gắn với Luật BHXH năm 2014, lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu của Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định số 24/2023/NĐ-CP.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi phân tích quy phạm pháp luật thực định (chủ yếu là Luật BHXH năm 2014 và văn bản dưới luật), chưa kết hợp điều tra xã hội học định lượng với cỡ mẫu lớn về mức độ tuân thủ đóng BHXH cho lao động nữ tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp tư nhân hoặc khu vực kinh tế phi chính thức.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát sang nhóm lao động nữ làm công việc tự do, lao động nữ di cư tham gia BHXH tự nguyện; đánh giá tác động toàn diện của việc sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội trong giai đoạn tiếp theo đối với các chế độ thai sản và tuổi nghỉ hưu của phụ nữ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Lao động và An sinh xã hội, Luật Kinh tế phục vụ học tập, nghiên cứu và xây dựng đề cương khóa luận, luận văn;
- Cán bộ nhân sự, cán bộ phụ trách lao động - tiền lương và ban chấp hành công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp trong việc rà soát, áp dụng chính xác các chế độ nghỉ chăm con ốm, thai sản và lộ trình tuổi nghỉ hưu cho lao động nữ;
- Người lao động và người sử dụng lao động tra cứu các mốc thời gian, mức hưởng và thủ tục cần thiết khi phát sinh sự kiện bảo hiểm.
Câu hỏi thường gặp
1. Thời gian nghỉ chăm sóc con ốm đau được quy định tối đa bao nhiêu ngày trong một năm?
Theo Điều 27 Luật BHXH năm 2014 và Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, thời gian nghỉ tối đa cho mỗi con trong một năm là 20 ngày làm việc nếu con dưới 03 tuổi, và tối đa 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 03 đến dưới 07 tuổi (tính theo ngày làm việc, không kể ngày nghỉ lễ, Tết, nghỉ hàng tuần).
2. Mức hưởng trợ cấp một ngày đối với chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản là bao nhiêu?
Theo khoản 3 Điều 41 Luật BHXH năm 2014, mức hưởng trợ cấp một ngày bằng 30% mức lương cơ sở. Với mức lương cơ sở hiện hành là 1.800.000 đồng/tháng (theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP), mức chi trả dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau thai sản là 540.000 đồng/ngày.
3. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con đối với lao động nữ là bao lâu?
Căn cứ Điều 34 Luật BHXH năm 2014, lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng (thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng). Trường hợp sinh đôi trở lên, tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
4. Chế độ thai sản khi lao động nữ sảy thai, nạo, hút, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý được xác định theo các mốc tuổi thai như thế nào?
Theo Điều 33 Luật BHXH năm 2014, thời gian nghỉ việc tối đa được chia thành 4 mốc: 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi; 20 ngày nếu thai từ 05 đến dưới 13 tuần tuổi; 40 ngày nếu thai từ 13 đến dưới 25 tuần tuổi; và 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên (thời gian này tính cả ngày nghỉ lễ, Tết, nghỉ hàng tuần).
5. Lộ trình tuổi nghỉ hưu của lao động nữ trong điều kiện bình thường được quy định như thế nào?
Khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định tuổi nghỉ hưu của lao động nữ năm 2021 là đủ 55 tuổi 04 tháng, sau đó mỗi năm tăng thêm 04 tháng cho đến khi đạt đủ 60 tuổi vào năm 2035 (ví dụ: năm 2023 là đủ 56 tuổi, năm 2024 là đủ 56 tuổi 04 tháng).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thị Hương đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ tại Việt Nam. Công trình cung cấp bức tranh chi tiết về cơ chế vận hành, điều kiện và mức hưởng của ba chế độ trọng tâm gồm chăm sóc con ốm đau, thai sản và hưu trí theo Luật BHXH năm 2014 và Bộ luật Lao động năm 2019. Những bất cập được nhận diện cùng các đề xuất hoàn thiện trong khóa luận mang giá trị tham khảo rõ ràng cho công tác nghiên cứu học thuật và áp dụng pháp luật an sinh xã hội trên thực tế.