Giáo Trình Luật An Sinh Xã Hội Tại Trường Đại Học Luật Hà Nội

Sách chuyên khảo Luật An Sinh Xã Hội - Đại Học Luật Hà Nội, nội dung cập nhật, ví dụ thực tế, phục vụ nghiên cứu và giảng dạy tron

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật An Sinh Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình

2013

202
71
4

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI GIỚI THIỆU

1. CHƯƠNG 1: LUẬT AN SINH XÃ HỘI TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1. KHAI NIỆM LUẬT AN SINH XÃ HỘI

1.2. Những quan hệ xã hội là đối tượng của luật an sinh xã hội Việt Nam

1.3. Nhóm thứ nhất: Quan hệ bảo hiểm xã hội

1.4. Nhóm thứ hai: Quan hệ cứu trợ xã hội

1.5. Nhóm thứ ba: Quan hệ ưu đãi xã hội

1.6. Nhóm thứ tư: Quan hệ bảo hiểm y tế

Bài viết "Giáo Trình Luật An Sinh Xã Hội Tại Trường Đại Học Luật Hà Nội" cung cấp một cái nhìn tổng quan về các nguyên tắc và quy định liên quan đến luật an sinh xã hội tại Việt Nam. Được biên soạn bởi một tập thể tác giả, trong đó có TS. Nguyễn Thị Kim Phụng, giáo trình này không chỉ phục vụ cho sinh viên ngành luật mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về vai trò của luật an sinh xã hội trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động và các nhóm yếu thế trong xã hội. Nội dung giáo trình bao gồm những khái niệm cơ bản, các quy định pháp lý hiện hành và thực tiễn áp dụng, mang lại lợi ích thiết thực cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Kỷ luật lao động theo pháp luật Việt Nam hiện nay: Thực trạng và hướng hoàn thiện, nơi phân tích các quy định về kỷ luật lao động, và Tìm Hiểu Pháp Luật về Hộ Kinh Doanh ở Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định liên quan đến hộ kinh doanh, một phần quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội. Ngoài ra, Luận Văn Thạc Sĩ Về Pháp Luật Bảo Hiểm Y Tế Tại Huyện Phúc Thọ, Hà Nội cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn sâu sắc về bảo hiểm y tế, một yếu tố thiết yếu trong an sinh xã hội. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở rộng hiểu biết của bạn về các khía cạnh khác nhau của luật an sinh xã hội.

Trích đoạn nội dung tài liệu

GIÁO TRÌNH LUẬT AN SINH XÃ HỘI 47-2013/CXB/70-454/CAND TR- ỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Giao trình LUẬT AN SINH XÃ HỘI (Tái bản lần thứ 7 có sửa đổi) NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN HÀ NỘI - 2013 Chủ biên TS. NGUYỄN THỊ KIM PHỤNG Tập thể tác giả ¬ . PHAM CONG TRU Ch- ong I . NGUYEN HỮU CHÍ Ch- ong III (Mục J), Ch- ong IV NWCS+OYDƠo . LOU BÌNH NHOONG Ch- ong VII _ TS. NGUYENTHI KIM PHUNG Ch- ong II, Ch- ong II (Mục V) _TS. TRAN THI THUY LAM Ch- ong V, Ch- ong III (Mục VI) TS. ĐỖ NGÂN BÌNH Ch- ong HI (Mục VI) . NGUYEN XUAN THU Ch- ong HI (Mục II, IV) . NGUYEN HIEN PHUƠNG Ch- ong VI . DO THI DUNG Ch- ong HI (Mục HI) LỜI GIỚI THIỆU Ở Việt Nam, các quy định nhằm mục đích an sinh xã hội xuất hiện từ rất sớm nhũng lý luận về lĩnh vực pháp luật này chỉ mới đợc chú trọng trong những năm gần đây. Trong điều kiện phát triển nên kinh tế thị trờng, an sinh xã hội trở nên rất quan trọng. Đó là hệ thống chính sách nhiều tang để tất cả các thành viên trong xã hội déu đợc tlong trợ, giúp đỡ ở mức độ hợp lý khi bị giảm, mất thu nhập hoặc gặp khó khăn, hoạn nạn trong cuộc sống. Việc đùa môn học luật an sinh xã hội vào chlong trình đào tạo cử nhân luật của Truờng Đại học Luật Ha Nội là việc lam thiết thực, mang nhiều ý nghĩa về lý luận và thực tiễn, đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra trong đời sống kinh tế xã hội của đất nóc. Nhằm cung cấp tài liệu phục vụ việc giảng dạy, học tập môn học này, Truờng Đại học Luật Hà Nội đã tổ chức biên soạn giáo trình luật an sinh xã hội. Tập thể tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn, chỉnh lý, tuy nhiên giáo trình cũng khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. TrUuờng Đại học Luật Ha Nội xin trân trọng giới thiệu giáo trình luật an sinh xã hội và chân thành cam ơn những ý kiến đóng góp cua ban doc để giáo trình ngày càng đợc hoàn thiện trong các lần tái bản sau. TRHỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI CHUONG I LUAT AN SINH XA HOI TRONG HE THONG PHAP LUAT VIET NAM I. KHAI NIEM LUAT AN SINH XA HOI 1. Đối tượng điều chỉnh cua luật an sinh xã hội Trong khoa học pháp lý, nói đến đối tượng điều chỉnh của một ngành luật thường là nói đến một hoặc một nhóm các quan hệ xã hội cùng loại. Luật an sinh xã hội với tư cách là một ngành luật cũng có đối tượng điều chỉnh là những quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực an sinh xã hội. An sinh xã hội Bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an toàn xã hội, an ninh xã hội, an sinh xã hội. là những thuật ngữ có ý nghĩa rộng hẹp khác nhau tuỳ theo nguồn gốc phát sinh hoặc từng nơi, từng lúc vận dụng.” Tuy nhiên, nếu xét về mục đích chung thi (1). Về thuật ngữ "an sinh xã hội" có thể xem thêm: “Giáo trinh pháp luật bdo dam xã hội” của Trung tâm giáo dục từ xa Dai học Huế — ThS. Trần Quang Huy chủ biên, Nxb. Công an nhân dân, 2001, tr. 10, 11; "Một số vấn đề lý luận và thực tiên về chính sách, pháp luật xã hội" - Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật - TS. Phạm Hữu Nghị chủ biên, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 21, 115, 116; Ngô Huy Cuong, An ninh xã hội: Một số vấn đề pháp lý căn bản va Đặng Đức San, Về thuật ngữ an sinh xế hội, T/C Khoa học t.XVII, 7 chúng đều nhằm trợ giúp cho con người - những thành viên của xã hội, trong những trường hợp rủi ro, hiểm nghèo mà bản thân họ không tự giải quyết được. Thông qua sự trợ giúp cả về vật chất va tinh than mà những khó khan, bất hạnh của con người được khắc phục hoặc giảm thiểu, từ đó góp phần làm cho xã hội tồn tại và phát triển trong thế ổn định và bền vững. Trên thế giới, thuật ngữ "an ninh xã hội” (hoặc an toàn xã hội - Social Security) được sử dụng phổ biến, vì nó phân biệt với thuật ngữ "an ninh kinh tế” và "an ninh chính tri". Hoa Kỳ đã có Luật về an ninh xã hội năm 1935 (The Social Security Act 1935). Tổ chức lao động quốc tế đã có Công ước số 102 năm 1952 - Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn (an ninh) xã hội. Tuy nhiên, ở nước ta, thuật ngữ "an sinh xã hội” ngày càng được sử dụng rộng rãi. Thuật ngữ nay chẳng những nói lên thực chất của an ninh xã hội là vấn đề an toàn trong đời sống xã hội mà còn để tránh nhầm lẫn với thuật ngữ "trật tự an toàn xã hội" hoặc "an ninh quốc gia". vốn thuộc về lĩnh vực giữ gìn quốc phòng, nội vụ. Trong đời sống, mỗi con người tuy là một cá nhân song lại tồn tại trong một cộng đồng người, một xã hội cụ thể. Vì thế, đã có quan điểm cho rằng con người là "thực thể sinh vật - xã hội" và "trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hoi". Để có thể tồn tại và phát triển, bên cạnh nhu cầu yên ổn về chính trị, kinh tế, con người còn muốn được yên ổn về mặt xã hội. Để dễ bề cai trị, các giai cấp cầm quyền ở mỗi chế độ xã hội cũng muốn duy N°l, Dai học Quốc gia Ha Nội, 2002, tr. Nguyễn Quang Quynh: Luật lao động và an ninh xã hội, in lần thứ 3, Sai gon, 1972. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 8 trì xã hội trong trật tự, bình ổn. Như vậy, có thể nói: An sinh xã hội là nhu cầu tự nhiên của con người, kể cả người dân và nhà cầm quyền. Tuy nhiên, ở mỗi cá nhân, ở mỗi cộng đồng, ở mỗi quốc gia trong những giai đoạn khác nhau, trong những hoàn cảnh kinh tế-xã hội, điều kiện địa lý, tập quán, truyền thống khác nhau thì "nhu cầu về an sinh" lại có những điểm không hẳn giống nhau. Trong xã hội nông nghiệp, lực lượng lao động xã hội đa phần là người nông dân. Nền kinh tế chủ yếu dựa trên hoạt động sản xuất tự cấp, tự túc phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, thường là khép kín trong một đơn vị gia đình, làng xã. Do đó, sự bất ổn ít xảy ra và nếu có thì cũng thường được giải quyết trước hết trong khuôn khổ gia đình dòng họ hoặc bằng cộng đồng làng mạc. Nhà nước và tôn giáo, bằng những cách thức khác nhau cũng tham gia vào quá trình giải quyết này. Trong xã hội công nghiệp, nền kinh tế sản xuất hàng hoá với mục đích kiếm tìm lợi nhuận đầy năng động đã tách con người ra khỏi cộng đồng làng xóm quen thuộc. Các đô thị lớn thay nhau mọc lên. Sức lao động trở thành hàng hóa. Sự thuê mướn nhân công phát triển, quan hệ lao động làm thuê giữ vị trí phổ biến trong xã hội. Những bất ổn gây ra cho người lao động "lam công ăn lương” như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp. ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của đại công nghiệp cơ khí. Bên cạnh những người lao động làm công ăn lương (có tham gia vào quan hệ lao động), những người lao động tự do (không tham gia vào quan hệ lao động), những người không có khả năng lao động (trẻ em, người tàn tật.), những người không còn khả năng lao động (bị tai nạn rủi ro, vì già yếu, mắc các bệnh xã hội.) cũng chiếm một số lượng không nhỏ trong xã hội. Đồng thời, những vấn đề như thiên tai (bão lụt, hạn hán, động đất.), nhân tai (chiến tranh, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường.) cũng thường xuyên xảy ra gây nhiều bất ổn, bất hạnh cho người dân, nhất là những người thuộc nhóm "yếu thế”. Đối với các nước nghèo, dân số đông, dịch vụ xã hội chưa phát triển thì "các vấn đề xã hoi" càng là một gánh nặng, nan giải. Tóm lại, những nguyên nhân (cả khách quan và chủ quan, cả thiên nhiên lẫn xã hội) đã khiến cho không ít người rơi vào những hoàn cảnh bất lợi, khó có điều kiện tồn tại và cơ hội phát triển. Một xã hội có nhiều thành viên không có đủ điều kiện sống tối thiểu và phát triển nhân cách là một xã hội bất ổn, thiếu an sinh, an toàn. Như vậy, xã hội càng phát triển, càng hiện đại thì nhu cầu về an sinh xã hội cũng phát sinh ngày càng tăng. Trước các nhu cầu của người dân về an sinh như vậy, bên cạnh các cách thức đáp ứng truyền thống như đùm bọc, chia sẻ giữa các cá nhân, giúp đỡ của cộng đồng, của tôn giáo (nhà chùa, nhà thờ) thì nhà nước phải đứng ra gánh vác "trách nhiệm xã hội" của mình. Ở một số quốc gia, do sớm ý thức được nhu cầu an sinh của người dân và trách nhiệm xã hội của mình, nhà nước đã áp dụng những phương sách, biện pháp khác nhau nhằm yên dân, ổn định xã hội. Các phương sách, biện pháp đó thường được gọi chung là các "chính sách xã hội”. Cùng với việc đề ra các chính sách xã hội, là việc ban hành một hệ thống luật pháp về xã hội để cụ thể hoá và thực thi các chính sách đó. Bởi vì, bằng cách thức và sức mạnh đặc trưng của mình, pháp luật biến những chủ trương, chính sách về mặt xã hội thành những điều quy định bắt buộc các bên tham gia 10 phải thực hiện và cùng với nó là các chế tài tương ứng. Ở Việt Nam, một nước nông nghiệp, nền kinh tế còn chưa phát triển, lại thường phải gánh chịu thiên tai, dich hoa, nên vấn đề an sinh xã hội đã đặt ra từ rất sớm. Với truyền thống "tương than", "tương ái”, việc nhường cơm sẻ áo cho nhau trong những lúc “tắt lửa tối đèn” đã để lại cho đời nhiều câu chuyện cảm động như cổ tích. Nhiều loại quỹ, với những tên gọi khác nhau, như "nghĩa điền", "nghĩa thương”, "tương tế”. đã sớm được lập ra với sự đóng góp của cộng đồng, sự trợ giúp của những nhà hảo tâm, của nhà chùa, nhà thờ để làm việc nghĩa, việc thiện. Để yên dân, các nhà nước phong kiến dưới các hình thức và mức độ khác nhau đã thực thi một số các chính sách cứu tế, cứu trợ và ưu đãi như "phát chẩn" vào những năm đói kém, "giảm thuế" vào những năm thiên tai, cấp "bổng lộc" đối với những người có công với triều đại, với dân, với nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ