Chương 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HÌNH PHAT CANH CÁO VA THI HANH HINH PHAT CANH CAO 1. Khái quát chung về hình phạt cảnh cáo Hình phạt là một phạm trù pháp lý - xã hội rất phức tạp, mang tính khách quan, gan liền với sự xuất hiện của Nhà nước và pháp luật. Từ xưa đến nay, ở bất kỳ xã hội có giai cấp nào, việc quy định trách nhiệm pháp lý và hình phạt với mục đích tran áp hoặc đe doa tran ap hoac để cải tạo đối với chủ thé phạm tội bằng những cách thức, hình thức khác nhau nhằm buộc họ phải biết răng họ đã hành động sai trái nên phải gánh chịu hậu quả để duy trì và bảo đảm trật tự xã hội [50, tr. Khi bàn về hình phạt, Các Mác đã nêu rằng: “,.
hình phat chẳng qua chỉ là thu đoạn tự vệ cua xã hội chống lại sự vi phạm những điều kiện ton tại của nó, dù cho những diéu kiện ấy có thé nào di nữa. Hình phat là việc nhà nước áp dụng một số biện pháp nghiêm khắc đối với người phạm tội (sau các thủ tục công bằng và hợp lý thông qua các giai đoạn tố tụng) vì lý do người phạm tội vi phạm một quy phạm pháp luật hình sự. Hành vi chống lại, vi phạm trật tự pháp lý là gốc rễ của mọi hình phạt. Pháp luật bị lệch hướng, không tuân thủ đến đâu, sẽ phải chịu quả báo, trừng phạt đến đó [70, tr.
Trừng phạt là một hình thức dân chủ tự vệ. Gốc rễ của hình phạt và chấp hành hình phạt là hình thức vé xử lý trách nhiệm hình sự [50, tr. Hình phạt ra đời bắt nguồn từ nhiệm vụ dau tranh với tình hình tội phạm và để bảo vệ quyền lợi, duy trì điều kiện tồn tại của giai cấp thống trị trong bất kỳ thể chế chính trị nào. Nhà nước có quyền xử lý, trừng tri người phạm tội, các chủ thé phạm tội có nghĩa vu phải chấp hành hình phạt.
Nói cách khác, khi giải quyết bất kỳ vụ án hình sự nào cũng xoay quanh vấn đề tội phạm, sau khi đã xác định tội phạm thì vấn đề trách 11 nhiệm hình sự và hình phạt được đặt ra từ đó quyết định hình phạt dé xác định chế tài hình sự. Tức là, có tội phạm xảy ra thì xuất hiện người phạm tội, có người phạm tội thì vấn đề trách nhiệm hình sự mới được đặt ra, có trách nhiệm hình sự thì hình phạt được xác định. Mức độ của hình phạt và nguyên nhân dẫn đến hình phạt là sản phẩm của sự thảo luận dân chủ, thông qua Quốc hội khi xác lập quyên trừng phạt đối với hành vi chống lại trật tự pháp lý. Pháp luật bị lệch hướng, không tuân thủ đến đâu, sẽ phải chịu quả báo, trừng phạt đến đó [70, tr.
Vì vậy, hình phạt là một hình thức thực hiện trách nhiệm hình sự và là biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc nhất được Nhà nước ghi nhận như hệ qua tất yếu dé ứng phó với tội phạm. Dưới góc độ pháp lý, hình phạt là hậu quả pháp lý gián tiếp của tội phạm. Theo tiếng Latin hình phạt có tên gọi là poena, tiếng Pháp là peine, tiếng Anh là punishment, tiếng Đức là strafe. Theo từ điền tiếng Việt, hình phạt có nghĩa là cực hình mà người phạm tội phải chịu nhiều hay ít [37].
“Hình phạt” tuy là từ ngữ tưởng rằng hiểu đơn giản nhưng trong khoa học pháp lý lại xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về định nghĩa hình phạt. Nhìn chung, các quan điểm đó có thê được phân thành ba loại. (1) Coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù người phạm tội; (2) Coi hình phạt là công cụ phòng chống tội phạm; (3) Coi hình phạt không chỉ trừng trị người phạm tội mà còn là công cụ phòng ngừa tội phạm. Quan điểm thứ nhất coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù người phạm tội.
Theo đó, quan điểm này lấy sự khắc nghiệt của hình phạt làm điều rin đe cho người phạm tội. Đại điện quan điểm này có thể kế đến học thuyết trừng phạt trong khoa học. Theo học thuyết trừng phạt, người phạm tội bị trừng phạt bởi họ đáng phải chịu phạt. Hành vi phạm tội chính là cơ sở dé áp dụng hình phạt.
Trong Luật trả thù của Kinh thánh có nêu: “Mắt trả bằng mắt, răng trả băng răng và mạng trả băng mạng”. Một sô học giả tiêu biêu của 12 trường phái học thuyết này có thé ké đến như Immanuel Kant (1724-1804), Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) [62, tr. Có thé thấy, theo quan điểm này, yếu tô trừng trị là sự phản ứng đối với tội phạm, biểu hiện của sự phản đối về mặt đạo lý đối với những hành vi nhất định xâm phạm các quy tắc xã hội. Theo cách tiếp cận này, hình phạt không cần có mục tiêu phòng ngừa tội phạm trong tương lai [54].
Quan điểm thứ hai coi hình phạt là công cụ phòng chống tội phạm. Nỗi bật quan điểm này là học thuyết vị lợi với học giả sáng lập chủ nghĩa này là Jeremy Bentham (trước đó do Cesare Beccaria (1738-1794) khởi xướng). Theo đó, hình phạt không hướng vào việc trả thù người phạm tội mà chỉ nhằm ngăn ngừa tội phạm trong tương lai. Cơ sở chính của học thuyết này là tác dụng răn đe đối với cá nhân và tác dụng răn đe người khác trong xã hội nói chung [62, tr.
Quan điểm thứ ba coi hình phạt không chỉ trừng trị người phạm tội mà con là công cụ phòng ngừa toi phạm. Những người đại diện cho quan niệm này là A. Có quan điểm cho rằng: “Hình phạt là sự trừng tri được luật quy định để phòng ngừa và tran áp hành vi cấu thành toi phạm gây ton hại đến trật tự xã hội.; sự trừng trị buộc người phạm tội phải chịu trong lĩnh vực hình sự thuộc quyền của thẩm phán hình sự, chiếu theo quy định của pháp luật ” [53, tr. Nguyên nhân do không có học thuyết nào là phù hợp, vượt trội dé biện minh cho sự tồn tại của hình phạt nên họ đã kết hợp quan điềm của hai học thuyết đã nêu trên.
Ở nước ta, về cơ bản, nhà làm luật đều nhận thức theo quan điểm thứ ba. Điều này còn được thê hiện rõ tại Điều 31 BLHS năm 2015 quy định về mục đích hình phạt. Tuy nhiên, mỗi loại tội phạm xảy ra đều có tính chất, mức độ nguy hiêm khác nhau nên việc đâu tranh chông và phòng ngừa tội 13 phạm cũng khác nhau nên cần có hệ thống hình phạt đa dạng đề phát huy hiệu quả công dụng của hình phạt cũng như thê hiện chính sách hình sự của Nhà nước. Ở nước ta, trong khoa học luật hình sự, hình phạt thường được chia thành hình phạt chính và hình phạt bổ sung.
Đối với người phạm tội, hình phạt chính bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. Trong phạm vi luận văn này, tác gia chỉ bàn về hình phạt cảnh cáo. Khái niệm, mục đích của hình phạt cảnh cáo 1. Khái niệm hình phạt cảnh cáo Ở nước ta, khi bàn đến khái niệm hình phạt, trong khoa học luật hình sự, quan điểm giữa các nhà luật gia vẫn còn có ý kiến khác nhau.
Tuy nhiên, về cơ bản, các nhà luật gia đều có quan điểm thống nhất hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước tác động đến chủ thê phạm tội, được quy định trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng với nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyên, lợi ích của chủ thể phạm tội và có tác dụng giáo dục, cải tạo chủ thể phạm tội và phòng ngừa tội phạm. Dưới góc độ lập pháp, Bộ luật hình sự nước ta cũng ghi nhận định nghĩa pháp lý về hình phạt. Điều 30 BLHS năm 2015 quy định: “Hinh phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyên, lợi ích của người, pháp nhân thương mai đó ”. Theo đó, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, không có biện pháp cưỡng chế nao (dân sự, hành chính.) nghiêm khắc hơn hình phạt do hậu quả pháp lý mang lại nặng nề hơn các biện pháp cưỡng chế khác và chỉ có chế tài hình sự (thông qua hình phạt) khiến cho chủ thê bị 14 kết án bị tước bỏ hoặc hạn chế quyên, lợi ich hợp pháp của họ và phải chịu án tích.
So với định nghĩa về hình phạt tại Điều 26 BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 đã nêu khái niệm hoàn thiện hơn. Nhà làm luật đã bổ sung chủ thé phạm tội là pháp nhân thương mại tại Điều 30 BLHS năm 2015. Hình phạt cảnh cáo là một trong những hình phạt chính, thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước vì nó không tước tự do của chủ thé phạm tội. Theo Từ điển Tiếng Việt, “cảnh cáo ” có nghĩa là “báo cho biết trước việc nguy hiểm” [31, tr.
Theo nguồn Từ điền Tiếng việt khác, “cảnh” có nghĩa là phòng giữ; “cáo” có nghĩa là báo cho biết. “Cảnh cáo” có thể hiểu là báo cho biết là nếu phạm hoặc tái phạm một lỗi tương tự sẽ bị trừng phạt hay báo cho biết phải từ bỏ hành vi sai trái [65]. Theo từ điển Luật học thì “Cảnh cáo có ý nghĩa là báo trước nếu không sửa chữa mà còn vi phạm sẽ bị xử lý theo hình thức nặng hon” [30, tr. Từ những khái niệm này cho thấy, cảnh cáo là việc báo trước cho người nào đó thấy trước những việc làm sai trái của bản thân dé họ biết, khắc phục và sửa chữa.
Trong trường hợp không thay đổi mà vẫn tiếp tục tái phạm thì sẽ bị xử phạt theo hình thức nặng hơn. Khi áp dụng cảnh cáo trong pháp luật hình sự thì đây được xem là một loại chế tài hình sự mang tính đặc thù riêng, có tính nghiêm khắc, răn đe cao hơn. Gắn với chế tài luật hình sự, tính ran đe và trừng tri cần được thể hiện cụ thể và có giá trị pháp lý khi bàn về khái niệm cảnh cáo. Vậy hình phạt cảnh cáo là gì? Qua các lần pháp điển hóa, cho đến thời điểm hiện nay, định nghĩa về hình phạt cảnh cáo chưa được ghi nhận trong Bộ luật hình sự hiện hành.
Điều 34 BLHS 2015 quy định: “Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt”. Điều 34 BLHS 2015 mới chỉ nêu được điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo.