Chương 1 Một số vấn đề chung về đất nông nghiệp, thu hồi đất nông nghiệp và pháp luật thu hồi đất nông nghiệp 1. Khái niệm và vai trò của đất nông nghiệp 1. Khái niệm đất nông nghiệp Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mọi quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là một trong các yếu tố quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng; có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đất đai được dùng hầu hết vào các ngành sản xuất, các lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.
Nền kinh tế Việt Nam cho đến nay vẫn là nền kinh tế nông nghiệp, nông nghiệp chiếm vị trí trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân. Trong toàn bộ hoạt động vật chất của con người, sản xuất nông nghiệp giữ một vị trí quan trọng. Kinh nghiệm của những nước đã đạt đến trình độ cao như Mỹ, Nhật Bản, cũng như các nước trở thành nước công nghiệp mới, trong những thập niên gần đây vẫn rất coi trọng nông nghiệp, nông thôn. Thành công mà họ đạt được là hiện đại hoá ngành nông nghiệp, cải biến cơ cấu nông thôn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn không chênh lệch quá xa so với khu vực đô thị.
Do đó, nông nghiệp và kinh tế nông thôn có điều kiện tích tụ vốn cho quá trình công nghiệp hoá. Việt Nam là một quốc gia trong vùng nhiệt đới, có nhiều thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, thu hút hơn 80% dân số và 70% lực lượng lao động [16]. Trong nhiều thập kỷ tới, nông nghiệp vẫn còn là một ngành kinh tế quan trọng ở nước ta. Nông thôn vẫn là khu vực địa lý rộng lớn và là một trong 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những yếu tố quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đặc điểm lớn nhất của sản xuất nông nghiệp là gắn chặt với các điều kiện tự nhiên như đất đai, khí hậu, nguồn nước.Trong các điều kiện đó, đất đai là cơ sở đầu tiên không thể thiếu được và là tư liệu sản xuất chủ yếu. Hoạt động lao động của con người bao giờ cũng gắn chặt với đối tượng lao động và tư liệu lao động. Đối tượng lao động là vật hoặc những vật mà hoạt động của con người tác động vào. Còn tư liệu lao động là những phương tiện vật chất mà nhờ đó, con người tác động vào đối tượng lao động.
Đất đai tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Vì vậy, đất đai trở thành một loại tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, đất đai được coi là nguồn gốc của mọi của cải. Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn và những loại cây được coi là lương thực. Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thuỷ sản hay để trồng các cây lâu năm.
Trước đây, Luật Đất đai năm 1993 đưa ra định nghĩa về đất nông nghiệp tại Điều 42 như sau: Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Theo quy định của Luật Đất đai năm 1993, đất đai của Việt Nam chia làm sáu loại: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chưa sử dụng. Với sự phân loại này, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được tách ra thành hai loại đất nằm trong sáu loại đất thuộc vốn đất quốc gia và được định nghĩa theo Điều 42 và Điều 43 của Luật 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đất đai năm 1993. Tuy nhiên, sự phân loại này dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau, vừa căn cứ vào địa bàn sử dụng đất đã dẫn đến sự đan xen, chồng chéo giữa các loại đất, không có sự tách bạch về mặt pháp lý gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai.
Để khắc phục những hạn chế đó, Luật Đất đai năm 2003 đã chia đất đai thành ba loại với tiêu chí phân loại duy nhất đó là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu. Trên cơ sở đó, đất đai được chia theo ba nhóm: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, có thể hiểu: nhóm đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, khoanh nuôi, tu bổ, bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp. Căn cứ vào mục đích sử dụng, Luật Đất đai 2003 phân loại nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất: a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; b) Đất trồng cây lâu năm; c) Đất rừng sản xuất; d) Đất rừng phòng hộ; đ) Đất rừng đặc dụng; e) Đất nuôi trồng thuỷ sản; g) Đất làm muối; h) Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.
Với diện tích đất nông nghiệp có hạn trong khi dân số đông, để đảm bảo tất cả mọi người nông dân đều có đất để sản xuất và đảm bảo đất nông 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp được sử dụng có hiệu quả, đất nông nghiệp được Nhà nước giao theo hạn mức. Đối với đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối thì hạn mức giao đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá ba héc ta đối với mỗi loại đất. Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá mười héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá ba mươi héc ta đối với các xã, phường thị trấn ở trung du, miền núi. Hạn mức giao đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30 héc ta đối với mỗi loại đất.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá năm héc ta. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức đất trồng cây lâu năm là không quá năm héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá hai mươi lăm héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất rừng sản xuất thì tổng hạn mức giao đất rừng sản xuất là không quá hai mươi lăm héc ta. Hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân đưa vào sử dụng theo quy hoạch để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối không vượt quá hạn mức giao đất quy định giao đất trồng cây lâu năm và không tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân theo những quy định trên.
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, chủ sử dụng đối với đất nông nghiệp bao gồm: - Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư: đối với các chủ thể này, đất nông nghiệp được Nhà nước giao, cho thuê, do được thuê quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác; do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao đất trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục sử dụng theo thời hạn giao đất còn lại. Còn đối với những địa phương chưa giao đất cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật về đất đai thì ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất lập phương án giao đất và đề nghị ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh quyết định giao đất. Đối với những địa phương mà ủy ban nhân dân các cấp đã hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân thương lượng điều chỉnh đất cho nhau trong quá trình thực hiện các chính sách, pháp luật về đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến nay đã sử dụng ổn định thì được tiếp tục sử dụng.
- Đất nông nghiệp còn được giao cho cộng đồng dân cư sử dụng để bảo tồn bản sắc dân tộc gắn với phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số. Cộng đồng dân cư được giao đất nông nghiệp có trách nhiệm bảo vệ diện tích đất được giao, được sử dụng đất kết hợp với mục đích sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, không được chuyển sang sử dụng vào mục đích khác. Ngoài ra, đất nông nghiệp còn được sử dụng vào mục đích công ích: Căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, mỗi xã, phường, thị trấn được lập quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích không quá 5% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản để phục vụ cho các nhu cầu công ích của địa phương. Đất nông nghiệp do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trả lại hoặc tặng cho quyền sử dụng cho Nhà nước, đất khai hoang, đất nông nghiệp thu hồi là nguồn để hình thành hoặc bổ sung cho quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường thị trấn.
Bên cạnh đó, tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng được quyền sử dụng đất nông nghiệp. Tổ chức kinh tế có nhu cầu sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuỷ sản, làm muối thì được nhà nước xem xét giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất hàng năm.