CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ “GIỚI” VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Khái quát về “giới” 1. Khái niệm Giới Giới (gender) là khái niệm không đồng nhất với giới tính (sex), không chỉ đề cập đến phụ nữ mà thực ra là khái niệm bao gồm cả nam giới và nữ giới cùng mối quan hệ tương tác giữa họ. Không giống như khái niệm “giới tính” mang tính đồng nhất, cụ thể và dễ nhất trí khi xác định định nghĩa thì khái niệm về “giới” lại đa dạng hơn và phong phú hơn rất nhiều.
Robert Stoller, tác giả cuốn sách “Sex and gender”, đưa ra định nghĩa về giới và mối quan hệ giữa hai khái niệm như sau: “Giới là một thuật ngữ có ý nghĩa tâm lý và văn hóa hơn là sinh học, nếu các thuật ngữ thích hợp cho giới tính (sex) là "nam" và "nữ", thì các thuật ngữ tương ứng cho giới (gender) là "nam tính" (masculine) và "nữ tính"(feminine) ; những điều sau này có thể khá độc lập với giới tính sinh học. Giới là chỉ số lượng về sự nam tính hoặc nữ tính được tìm thấy ở một người, và, rõ ràng ,trong khi có sự pha trộn của cả hai ở nhiều người, nam giới bình thường có ưu thế về nam tính và nữ giới bình thường có ưu thế về nữ tính.”1 Trong “Thinking about women” của Margaret L. Andersen thì “giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi được tạo nên với hai giới tính. Trong khi “con trai”(male) hay “con gái”(female) là những yếu tố sinh học thì việc trở thành một nữ giới hay một nam giới là một quá trình văn hóa.”2 1 Ann Oakley, 1972, Sex Gender and Society, tr.Andersen: Think about women, tr 20 13 Theo Vũ Mạnh Lợi : “Giới chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ có được do quá trình học hỏi từ gia đình, nhà trường và giao tiếp xã hội chứ không phải sinh ra đã có.”3 Các định nghĩa trên cho phép ta hình dung được cách tiếp cận đa dạng của vấn đề.
Tuy nhiên ta nhận thấy được một quan điểm thống nhất quan trọng: đó là giới giống như là sản phẩm của xã hội-văn hóa, được hình thành từ qúa trình học tập và sinh sống. Tại Việt Nam, theo Điều 5, Khoản 1, Luật Bình đẳng giới Việt Nam (2006) quy định: “Giới” là thuật ngữ dùng để chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội. So sánh với các định nghĩa khác, Luật Việt Nam có sự ngắn gọn, khái quát và chia tách rõ ràng giữa hai khái niệm ‘giới” và “giới tính” tại khoản 1 và khoản 2 điều 5, phân biệt các đặc điểm về phương diện sinh học và phương diện xã hội - văn hóa của phụ nữ và nam giới. Tuy nhiên, khái niệm này lại chưa thật sự cụ thể và chi tiết so với các khái niệm quốc tế.
Các khái niệm quốc tế không chỉ nêu ra sự khác biệt giữa “giới” và”giới tính” mà còn phân tích cụ thể sự hình thành “giới” trải qua sự dạy dỗ, học hỏi không chỉ trong gia đình mà còn trong các thiết chế xã hội chủ yếu gồm: trường học, tôn giáo, nhà nước…và là sự kỳ vọng liên quan đến nam và nữ mà xã hội mong muốn. Chẳng hạn: phụ nữ làm nội trợ, may vá, chăm sóc con cái, nam giới làm kinh tế, chính trị,…Ngoài ra, hình thành “giới” còn thay đổi theo thời gian, từ nước này sang nước khác, từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác trong một bối cảnh cụ thể của một xã hội, do các yếu tố xã hội, lịch sử, tôn giáo, kinh tế quyết định. Chẳng hạn: địa vị của người phụ nữ phương Tây khác với địa vị của người phụ nữ phương Đông, địa vị của phụ nữ nông thôn khác với địa vị của phụ nữ vùng thành thị…. Bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình.
14 Từ những phân tích trên, khái niệm giới được hiểu là những khác biệt về mặt xã hội giữa phụ nữ và nam giới trái ngược với sinh học, hình thành do được dạy và học, có thể thay đổi theo thời gian và có sự khác nhau đáng kể cả trong và giữa các nền văn hóa. Giới định hình các vai trò, quyền hạn, mối quan hệ và trách nhiệm được gán cho phụ nữ và nam giới trong một xã hội và bối cảnh văn hóa cụ thể. Khái niệm Bình đẳng giới Căn cứ pháp lý làm phát sinh đề xuất về lồng ghép giới là bình đẳng giới. Đây là một vấn đề mang tính đa dạng, phức tạp và luôn dành được rất nhiều sự quan tâm từ các nhà khoa học cả trong và ngoài nước từ trước tới nay.
Về phía quốc tế, đã có rất nhiều định nghĩa được đưa ra về vấn đề này như: “khái niệm rằng tất cả mọi người đều được tự do phát triển năng lực cá nhân và đưa ra lựa chọn mà không có sự hạn chế nào bị ấn định bởi các vai trò giới khắt khe; rằng hành vi, các khao khát và nhu cầu khác nhau của phụ nữ và nam giới được xem xét, coi trọng và ủng hộ như nhau”4 hay “ Bình đẳng giới không có nghĩa là phụ nữ và nam giới phải trở nên giống nhau, nhưng không nên có sự khác biệt về quyền, trách nhiệm và cơ hội của các cá nhân. Bình đẳng giới có nghĩa là tất cả các cá nhân được hưởng các quyền như nhau, bất kể họ là nam, nữ hay thuộc giới tính khác. Một công cụ được sử dụng để thúc đẩy và thực hiện bình đẳng giới là lồng ghép giới.”5 hoặc “Bình đẳng giới có nghĩa là sự hiện diện một cách bình đẳng, sự trao quyền và sự tham gia bình đẳng của cả hai giới tính trong tất cả các lĩnh vực của đời sống công và riêng tư. Bình đẳng giới là sự đối lập với bất bình đẳng giới, không phải của khác biệt giới tính, và nhằm mục đích thúc đẩy sự tham gia đầy đủ 4 Ủy ban Châu Âu.
One Hundred Words for Equality: A Glossary of Terms on Equality between Women and Men). 5 Tổ chức United Network for Young Peacebuilders, 2011, Peacebag for Euromed Youth.org/files/PeaceBagforEuromed14032012.pdf 15 của phụ nữ và nam giới trong xã hội.”6 Nhìn chung, các khái niệm trong những nghiên cứu quốc tế đều đã cụ thể hóa các đặc điểm và nội dung đã bao hàm những đặc điểm của khái niệm “bình đẳng giới”. Về bản chất có thể hiểu bình đẳng giới chính là giữa nam giới và phụ nữ không có sự phân biệt, hạn chế về mọi mặt trong tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế- xã hội, nam và nữ trở nên ngang bằng nhau trong việc hưởng thụ thành quả, có cơ hội phát triển năng lực các nhân. Mục tiêu cuối cùng hướng đến là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.7 Không chỉ quốc tế, hệ thống pháp luật Việt Nam và các nhà lập pháp từ rất sớm đã có sự chú trọng và phát triển tới khía cạnh đảm bảo quyền lợi của nam giới và nữ giới và vấn đề bình đẳng giới đã được đề cập trong rất nhiều chính sách,bộ luật… Hiến pháp năm 2013 tại khoản 1 và 3 điều 26 quy định : “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt.
Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.” và “nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”. Chỉ thị 21/CT-TW ngày 20/1/2018 của Ban Bí thư yêu cầu “hoàn thiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển toàn diện ” và “Ban cán sự Đảng Chính phủ bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong việc xây dựng cơ chế, chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội”. Nghị quyết 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 nêu rõ mục tiêu hướng nam và nữ tới thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực đời sồng xã hội trong các lĩnh vực cụ thể như: chính trị, kinh tế, lao động, y tế, giáo dục…và phân công trách nhiệm tới các bộ, ban ngành có liên quan. Đặc biệt nhà nước đã xây dựng riêng 6 Council of Europe, EG-S-MS (98) 2, Gender mainstreaming: Conceptual framework, methodology and presentation of good practices , may 1998, tr.7 7 Điều 4, Luật bình đẳng giới (2006) 16 “Luật Bình đẳng giới” ngày 29/6/2006 quy định chi tiết và cụ thể nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm hay trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong thực hiện bình đẳng giới.
Trong luật này, khái niệm về bình đẳng giới đã được cụ thể hóa. Giống với các định nghĩa quốc tế, đây cũng là một khái niệm có nội dung đầy đủ, bao hàm và nêu rõ được các đặc điểm của vấn đề. Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. Khái niệm Lồng ghép giới Vấn đề giới (gender) từ lâu đã luôn được quan tâm cả ở quốc tế và Việt Nam.
Điều này có nguyên nhân từ việc bất bình đẳng giới giữa nam giới và nữ giới trong xã hội được thể hiện dưới nhiều góc độ: lao động và việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe… Để thu hẹp khoảng cách giới, xóa bỏ bất bình đẳng giới thì nhà nước cần thực hiện hàng loạt những giải pháp vừa tổng thể vừa cụ thể để hướng tới bình đẳng giới và một trong những giải pháp hiệu quả là Lồng ghép giới. Như đã đề cập, khái niệm về giới tính (sex) là chỉ sự khác biệt các yếu tố sinh học giữa nam và nữ còn giới (gender) là chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về khía cạnh xã hội. Điều này lý giải rằng lồng ghép giới với tên tiếng anh là “gender mainstreaming” đề cập tới vấn đề đưa những mối quan tâm về nam giới và nữ giới dưới góc độ kinh tế xã hội, những quyền lợi, vai trò hay trách nhiệm của họ vào trong mọi lĩnh vực quan trọng của đời sống đặc biệt là việc đưa ý tưởng, thể chế hóa, đan xen những mối quan tâm ấy vào trong các chính sách, luật pháp và chương trình 8 Khoản 3, điều 5, Luật bình đẳng giới (2006) 17 để nhằm hướng tới bình đẳng giới.