Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành công nghiệp quảng cáo đóng vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy lưu thông hàng hóa, dịch vụ và phát triển kinh tế - xã hội. Trong cơ cấu tiếp thị hiện đại, quảng cáo thương mại ngoài trời chiếm thị phần lớn thứ hai, chỉ đứng sau quảng cáo truyền hình. Trên phạm vi toàn cầu, loại hình này được phân định thành hai nhóm chính: quảng cáo ngoài trời vật lý truyền thống (Out-of-Home - OOH) bao gồm pano, áp phích, băng rôn, biển bảng tấm lớn, phương tiện giao thông; và quảng cáo ngoài trời kỹ thuật số (Digital Out-of-Home - DOOH). Tại Việt Nam cũng như hầu hết các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương, hình thức quảng cáo ngoài trời vật lý vẫn chiếm ưu thế chủ đạo.
Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ban hành Luật Thương mại năm 2005, thị trường quảng cáo trong nước bước vào giai đoạn mở rộng nhanh chóng nhưng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn truyền thông nước ngoài. Thị trường quảng cáo Việt Nam bộc lộ ba đặc tính nhu cầu nổi bật: nhu cầu đa dạng về hình thức phương tiện; nhu cầu mang tính tự phát do đa số doanh nghiệp nội địa chưa tích hợp quảng cáo bài bản vào chiến lược tiếp thị dài hạn; và nhu cầu tiềm năng xuất phát từ nhận thức ngày càng cao về xây dựng thương hiệu. Sự phát triển mạnh mẽ của thực tiễn đòi hỏi phải có hành lang pháp lý đồng bộ, dẫn đến sự ra đời của Luật Quảng cáo năm 2012. Tuy nhiên, sau gần một thập kỷ thi hành, hệ thống pháp luật điều chỉnh quảng cáo thương mại ngoài trời đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn:
- Thiếu vắng định nghĩa pháp lý chính thức về "quảng cáo thương mại ngoài trời"; cơ chế xử lý vi phạm hành chính còn thiếu các chế tài tăng nặng theo số lần vi phạm cũng như trách nhiệm dân sự về cải chính, xin lỗi và bồi thường thiệt hại.
- Quy trình thủ tục hành chính phức tạp, thiếu tính liên thông và tồn tại mâu thuẫn trực tiếp giữa các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là tình trạng xung đột thẩm quyền giữa cơ quan quản lý văn hóa và cơ quan quản lý xây dựng trong việc cấp phép công trình quảng cáo.
- Công tác lập và thực thi quy hoạch quảng cáo ngoài trời tại các địa phương còn chậm trễ, lúng túng, dẫn đến tình trạng các bảng biển quảng cáo phát triển tự phát, xâm phạm hành lang an toàn giao thông và làm suy giảm mỹ quan đô thị.
Tại thành phố Hải Phòng – trung tâm kinh tế biển, đầu mối giao thông huyết mạch của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ – tốc độ đô thị hóa nhanh và sự hình thành của các trục giao thông đối ngoại lớn (Cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, Quốc lộ 5, Quốc lộ 10, Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, Sân bay quốc tế Cát Bi) đã tạo ra không gian phát triển rộng mở cho quảng cáo ngoài trời. Dù vậy, công tác quản lý nhà nước tại địa phương gặp nhiều trở ngại do "Quy hoạch phát triển quảng cáo giai đoạn 2004 - 2020" của thành phố đã lạc hậu, không còn tương thích với Luật Quảng cáo năm 2012 và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 17:2018/BXD. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Nhật Hoàng được thực hiện nhằm phân tích thực trạng pháp lý, đánh giá thực tiễn thi hành tại Hải Phòng và đề xuất các luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn Hải Phòng, từ đó đưa ra các kiến nghị tháo gỡ vướng mắc cho các chủ thể tham gia thị trường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm:
- Hệ thống hóa và phân tích các quy định pháp luật hiện hành về quảng cáo thương mại ngoài trời tại Việt Nam;
- So sánh, đối chiếu quy định pháp luật của Việt Nam với một số quốc gia châu Á (Singapore, Nhật Bản) nhằm rút ra bài học kinh nghiệm;
- Khảo sát, đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng pháp luật và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo ngoài trời tại thành phố Hải Phòng;
- Xác định các nguyên nhân của bất cập, vướng mắc, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành tại địa phương.
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận, hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quảng cáo ngoài trời tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định này trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào các quy định của Luật Quảng cáo năm 2012, Luật Thương mại năm 2005, Luật Xây dựng và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành liên quan trực tiếp đến quảng cáo thương mại ngoài trời.
- Về không gian: Địa bàn 15 quận, huyện thuộc thành phố Hải Phòng (7 quận: Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An, Đồ Sơn, Dương Kinh; 8 huyện: An Dương, An Lão, Bạch Long Vĩ, Cát Hải, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo).
- Về thời gian: Thu thập, khảo sát số liệu thực trạng từ năm 2017 đến tháng 12 năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành luật kinh tế và luật hành chính:
- Khung lý thuyết và khái niệm: Nghiên cứu phân tích khái niệm quảng cáo theo nghĩa rộng (hoạt động truyền tin, tác động nhận thức xã hội) và nghĩa hẹp (xúc tiến thương mại nhằm mục đích sinh lợi theo Điều 102 Luật Thương mại 2005 và khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012; Từ điển Bách khoa Việt Nam; Từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary). Từ việc chỉ ra khoảng trống luật định, tác giả đề xuất định nghĩa khoa học: "Quảng cáo thương mại ngoài trời là hoạt động xúc tiến thương mại được các chủ thể thực hiện thông qua các phương tiện quảng cáo ngoài trời nhằm giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hoạt động kinh doanh đến với người tiêu dùng với mục đích sinh lợi". Hoạt động này mang các đặc trưng: tính chất sinh lợi, thông điệp truyền tải qua hệ thống phương tiện chuyên biệt đặt tại không gian công cộng, chịu sự quản lý nghiêm ngặt về quy hoạch mỹ quan và an toàn kỹ thuật, tần suất tiếp cận liên tục 24/24 giờ mỗi ngày.
- Hệ thống văn bản pháp luật làm căn cứ:
- Văn bản luật: Luật Thương mại số 36/2005/QH11; Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13; Luật Báo chí năm 2016; Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019.
- Văn bản dưới luật của Trung ương: Nghị định số 181/2013/NĐ-CP; Nghị định số 103/2009/NĐ-CP; Nghị định số 24/2020/NĐ-CP; Nghị định số 38/2021/NĐ-CP; Thông tư số 10/2013/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Thông tư số 10/2012/TT-BXD và Thông tư số 04/2018/TT-BXD của Bộ Xây dựng ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 17:2018/BXD; Hướng dẫn số 3873/HD-BVHTTDL; Chỉ thị số 17/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Văn bản quản lý của địa phương: Quyết định số 3685/QĐ-UB (2004) của UBND TP Hải Phòng; Quyết định số 299/2017/QĐ-UBND quy định chức năng, nhiệm vụ của Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng; Quyết định số 2307/2016/QĐ-UBND ban hành Quy chế quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời trên địa bàn thành phố Hải Phòng; Kế hoạch số 143/KH-UBND; các văn bản điều hành chuyên ngành của Sở Văn hóa và Thể thao (Công văn 2719, 720, 1523, 1736, 1773, 2478) và Sở Thông tin và Truyền thông Hải Phòng (Công văn 822, 247, 487, 1461).
- Kinh nghiệm pháp luật quốc tế: Pháp luật Singapore (hệ thống cấp phép trực tuyến ALS, hệ thống bản đồ số của Cơ quan Tái thiết Đô thị URA, ngưỡng diện tích cấp phép trên 5m², phân định rạch ròi giữa biển hiệu thông thường và biển quảng cáo thương mại); pháp luật Nhật Bản (ngoại lệ khu vực địa lý, phân cấp tiêu chuẩn cấp phép thành 6 mức độ, phân loại hồ sơ theo 3 trường hợp: cấp mới, cấp tiếp tục, cấp thay đổi; quản lý kết hợp qua Luật Công viên tự nhiên và Luật Bảo tồn tự nhiên; quy định chế độ báo cáo loại bỏ biển bảng).
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm và bình luận lập pháp; phương pháp luật học so sánh; phương pháp tổng hợp và phân loại; phương pháp thống kê xã hội học; phương pháp khảo sát thực tế và đối chiếu số liệu.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu điều tra thực trạng độc lập từ năm 2017 đến tháng 12 năm 2020 do Công ty Danko phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng và Phòng Văn hóa - Thông tin các quận, huyện thực hiện; báo cáo chuyên môn của Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Giao thông vận tải Hải Phòng; số liệu hoạt động từ Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng (THP), Báo Hải Phòng, Tạp chí Sinh hoạt chi bộ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và khung pháp luật về quảng cáo thương mại ngoài trời
Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận về quảng cáo thương mại ngoài trời, phân tích các thuộc tính kinh tế - pháp lý của loại hình này và khẳng định tính tất yếu của việc quản lý nhà nước nhằm cân bằng lợi ích thương mại của doanh nghiệp với quyền lợi người tiêu dùng, an toàn cộng đồng và trật tự đô thị.
Tác giả phân tích kinh nghiệm quản lý của Singapore và Nhật Bản để rút ra các giá trị tham chiếu:
- Tại Singapore: Cơ chế phân định nghiêm ngặt giữa "biển hiệu" (không chứa dấu hiệu thương mại sinh lợi) và "biển quảng cáo", áp dụng ngưỡng diện tích kiểm soát 5m², vận hành Hệ thống cấp phép quảng cáo trực tuyến (ALS) và tích hợp bản đồ quy hoạch không gian của URA giúp minh bạch hóa vị trí lắp đặt.
- Tại Nhật Bản: Quy định cụ thể hồ sơ cho từng trường hợp biến động (cấp mới, gia hạn, thay đổi nội dung/kết cấu), thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật phân theo 6 cấp độ không gian, gắn kết điều chỉnh quảng cáo với pháp luật bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bắt buộc nộp "báo cáo loại bỏ" khi chấm dứt sử dụng phương tiện quảng cáo.
Nội dung chương đi sâu đánh giá các yếu tố địa kinh tế và hạ tầng của thành phố Hải Phòng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quảng cáo ngoài trời: vị trí cửa ngõ cảng biển quốc tế, đầu mối giao thông đa phương thức (đường bộ, đường thủy, đường sắt, hàng không), tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tác giả nêu bật dữ liệu nhân khẩu học (dân số 2.514 người theo số liệu sơ bộ Tổng điều tra ngày 01/4/2019 được ghi trong văn bản, đứng thứ 7 cả nước; mật độ dân cư tập trung dày đặc tại các quận lõi: Lê Chân, Ngô Quyền, Hồng Bàng). Thực trạng này tạo ra nhu cầu quảng cáo tập trung cao độ tại khu vực nội thành.
Về quy hoạch địa phương, tác giả phân tích sự bất cập của Quyết định số 3685/QĐ-UB ngày 31/12/2004 của UBND thành phố Hải Phòng về "Quy hoạch phát triển quảng cáo giai đoạn 2004 - 2020". Bản quy hoạch này bộc lộ sự lạc hậu nghiêm trọng:
- Vi phạm thời hạn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 38 Luật Quảng cáo năm 2012 (yêu cầu các địa phương phải ban hành quy hoạch mới trong vòng 12 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực);
- Không tương thích với các quy chuẩn kỹ thuật xây dựng mới ban hành sau năm 2004, đặc biệt là Thông tư 04/2018/TT-BXD và QCVN 17:2018/BXD;
- Lệch pha so với Quyết định số 821/QĐ-TTg ngày 06/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030;
- Chưa bao quát được các không gian đô thị và hạ tầng giao thông mới hình thành như tuyến Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (5B), hệ thống cầu đường vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện và Cảng hàng không quốc tế Cát Bi mở rộng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại ngoài trời và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Phòng
Chương 2 tập trung mổ xẻ các quy định pháp luật thực định và đánh giá toàn diện bức tranh thi hành pháp luật tại Hải Phòng:
- Khung pháp lý kỹ thuật và điều kiện quảng cáo: Phân tích các điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đặc biệt (Điều 20 Luật Quảng cáo 2012); các giới hạn pháp lý cụ thể đối với từng loại phương tiện:
- Bảng quảng cáo, băng rôn (Điều 27): Cấm chăng ngang đường giao thông; đối với bảng/băng rôn tuyên truyền chính trị kết hợp quảng cáo, biểu trưng/nhãn hiệu phải đặt ở phía dưới (băng rôn dọc) hoặc bên phải (băng rôn ngang), tỷ lệ diện tích nhãn hiệu không vượt quá 20%; thời hạn treo băng rôn tối đa 15 ngày;
- Màn hình chuyên quảng cáo ngoài trời (Điều 28): Tuyệt đối không được sử dụng âm thanh;
- Phương tiện giao thông (Điều 32): Cấm thể hiện sản phẩm quảng cáo ở mặt trước, mặt sau và trên nóc; diện tích quảng cáo không được vượt quá 50% diện tích mỗi mặt bên;
- Loa phóng thanh (Điều 33): Cấm quảng cáo bằng loa gắn trên phương tiện di động tại khu vực nội thành, nội thị;
- Biển hiệu (Điều 34): Biển hiệu ngang có chiều cao tối đa 02m, chiều dài không vượt quá chiều ngang mặt tiền; biển dọc có chiều ngang tối đa 01m, chiều cao tối đa 04m (không vượt quá chiều cao tầng nhà).
- Xung đột thẩm quyền cấp phép (Điểm nghẽn pháp lý trung tâm): Luận văn chỉ rõ sự mâu thuẫn trực tiếp giữa văn bản luật và văn bản dưới luật. Điều 31 Luật Quảng cáo năm 2012 quy định cá nhân, tổ chức xin cấp phép xây dựng công trình quảng cáo tại cơ quan xây dựng địa phương, sau đó nộp hồ sơ thông báo sản phẩm tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (kèm bản sao giấy phép xây dựng theo Điều 29). Ngược lại, khoản 6 Điều 3 Thông tư số 10/2012/TT-BXD của Bộ Xây dựng lại quy định hồ sơ xin cấp phép xây dựng công trình quảng cáo phải có văn bản chấp thuận trước của cơ quan quản lý nhà nước về quảng cáo (Sở VHTTDL). Sự xung đột theo kiểu "con gà và quả trứng" này khiến doanh nghiệp rơi vào vòng luẩn quẩn thủ tục, còn hai ngành Xây dựng và Văn hóa không thể thống nhất quy trình thụ lý.
Về số liệu thực tế, luận văn trích xuất bảng kết quả khảo sát thực trạng tháng 12/2020 do Công ty Danko và Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng thực hiện trên địa bàn 15 quận, huyện:
| Địa bàn quận / huyện |
Bảng tuyên truyền tấm lớn |
Bảng tuyên truyền tấm nhỏ |
Bảng quảng cáo tấm lớn |
Bảng quảng cáo tấm nhỏ |
Bảng trên dải phân cách |
Bảng rao vặt |
Băng rôn |
Màn hình LED |
Tổng cộng |
| Đồ Sơn |
2 |
2 |
2 |
15 |
30 |
10 |
0 |
0 |
61 |
| Dương Kinh |
4 |
0 |
7 |
19 |
18 |
0 |
0 |
0 |
48 |
| Hải An |
0 |
0 |
9 |
21 |
0 |
0 |
0 |
0 |
30 |
| Hồng Bàng |
0 |
3 |
5 |
29 |
0 |
0 |
17 |
4 |
58 |
| Kiến An |
0 |
9 |
2 |
7 |
0 |
2 |
0 |
0 |
20 |
| Lê Chân |
0 |
6 |
2 |
17 |
0 |
2 |
0 |
1 |
28 |
| Ngô Quyền |
0 |
17 |
11 |
39 |
30 |
2 |
13 |
3 |
115 |
| An Dương |
1 |
2 |
34 |
1 |
0 |
0 |
0 |
0 |
38 |
| An Lão |
0 |
3 |
0 |
1 |
0 |
0 |
0 |
0 |
4 |
| Bạch Long Vỹ |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
| Cát Hải |
4 |
80 |
4 |
7 |
19 |
3 |
0 |
2 |
119 |
| Kiến Thụy |
1 |
11 |
3 |
3 |
60 |
4 |
0 |
1 |
83 |
| Thủy Nguyên |
3 |
7 |
5 |
31 |
28 |
5 |
0 |
3 |
82 |
| Tiên Lãng |
0 |
6 |
5 |
2 |
0 |
12 |
0 |
3 |
28 |
| Vĩnh Bảo |
3 |
3 |
13 |
7 |
45 |
30 |
0 |
3 |
104 |
| Tổng số |
18 |
149 |
102 |
199 |
230 |
70 |
30 |
20 |
818 |
Nguồn: Kết quả Khảo sát thực trạng tháng 12/2020 – Công ty Danko (trích từ khóa luận)
Phân tích số liệu và hiện trạng thực địa cho thấy:
- Địa bàn toàn thành phố có khoảng 40 bảng quảng cáo tấm lớn một cột (kết cấu hai mặt, diện tích phổ biến từ 80m² – 160m², một số từ 40m² – 60m², dùng chất liệu tôn và bạt hiflex). Khoảng 92 bảng dựng trước thời điểm Luật Quảng cáo 2012 và QCVN 17 có hiệu lực vẫn đang trong quá trình điều chỉnh, nhiều công trình đã xuống cấp, hoen gỉ, trơ khung sắt (điển hình trên Quốc lộ 5).
- Tỷ lệ vi phạm không gửi hồ sơ thông báo sản phẩm quảng cáo đến cơ quan nhà nước ước tính chiếm khoảng 20%. Hiện tượng biến tướng bảng quảng cáo trá hình dưới dạng biển hiệu diễn ra phổ biến nhằm trốn tránh thủ tục và nghĩa vụ tài chính.
- Màn hình LED chuyên quảng cáo thương mại ngoài trời toàn thành phố chỉ có 20 vị trí, chủ yếu đầu tư theo hình thức xã hội hóa kết hợp tuyên truyền nhiệm vụ chính trị tại dải trung tâm, đường Lạch Tray, khu Ngã Sáu mới và Cát Bà; phương thức này chưa phát triển do chi phí đầu tư lớn và các lo ngại về an toàn giao thông.
- Công tác quản lý nhà nước chuyên ngành ghi nhận: Sở Văn hóa và Thể thao duy trì thời hạn thẩm định, giải quyết hồ sơ thông báo sản phẩm trong 05 ngày làm việc. Quản lý trên báo chí và truyền thanh do Sở Thông tin và Truyền thông giám sát chặt chẽ: Đài PTTH Hải Phòng phát sóng quảng cáo bình quân 02 giờ/ngày (dưới ngưỡng trần 10%), Tạp chí Sinh hoạt chi bộ thực hiện tuyên truyền trên bìa 2, 3, 4 với tỷ lệ diện tích dưới 20%.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại ngoài trời
Chương 3 xây dựng các định hướng chính sách và hệ thống giải pháp xuất phát từ các khoảng trống pháp lý và vướng mắc thực tiễn đã chứng minh ở hai chương trước:
- Định hướng lập pháp: Hoàn thiện pháp luật phải đặt trọng tâm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; bảo đảm tính thống nhất nội tại của hệ thống pháp luật (loại bỏ xung đột giữa pháp luật quảng cáo, xây dựng, đất đai và giao thông); bảo đảm quy hoạch quảng cáo ngoài trời tương thích hữu cơ với quy hoạch không gian đô thị và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
- Bổ sung định nghĩa pháp lý chính thức về "quảng cáo thương mại ngoài trời" vào Luật Quảng cáo;
- Bãi bỏ quy định mâu thuẫn tại khoản 6 Điều 3 Thông tư số 10/2012/TT-BXD, chuẩn hóa quy trình liên thông một cửa giữa Sở Xây dựng và Sở Văn hóa và Thể thao;
- Điều chỉnh chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa - quảng cáo: bổ sung hình thức xử phạt tăng nặng tương ứng với số lần tái phạm, luật hóa trách nhiệm cải chính công khai và bồi thường thiệt hại dân sự;
- Đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng phân loại hồ sơ minh bạch (cấp mới, điều chỉnh, gia hạn) tương tự pháp luật Nhật Bản.
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành và đề xuất riêng cho Hải Phòng:
- Khẩn trương hoàn thiện, thẩm định và phê duyệt Đề án "Rà soát, điều chỉnh và bổ sung Quy hoạch quảng cáo ngoài trời và cổ động trực quan Thành phố Hải Phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030";
- Nghiên cứu xây dựng phần mềm thẩm định và bản đồ số hóa vị trí quảng cáo ngoài trời tương tự hệ thống ALS và URA của Singapore;
- Thực hiện rà soát, kiên quyết cưỡng chế tháo dỡ các bảng quảng cáo tấm lớn hư hỏng, vi phạm hành lang an toàn giao thông trên tuyến Quốc lộ 5; phân bổ lại các vị trí quảng cáo tấm lớn sang tuyến Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (5B) và các trục đối ngoại mới;
- Tăng cường cơ chế thanh tra liên ngành giữa Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Xây dựng, Sở Giao thông vận tải và UBND các quận, huyện nhằm kiểm soát hiện tượng biển hiệu trá hình bảng quảng cáo.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa số liệu thực chứng: Khóa luận công bố bộ dữ liệu điều tra thực trạng toàn diện nhất tính đến tháng 12/2020 về hạ tầng phương tiện ngoài trời tại Hải Phòng với tổng số 818 phương tiện thuộc 8 danh mục tại 15 quận, huyện; xác lập số lượng khoảng 40 bảng tấm lớn một cột, 92 công trình cũ tồn tại trước Luật Quảng cáo cần xử lý và tỷ lệ vi phạm nghĩa vụ thông báo sản phẩm xấp xỉ 20%.
- Vạch rõ xung đột kỹ thuật lập pháp: Tác giả đã chứng minh bằng căn cứ pháp lý mâu thuẫn trực tiếp giữa Điều 29, 31 Luật Quảng cáo năm 2012 và khoản 6 Điều 3 Thông tư số 10/2012/TT-BXD của Bộ Xây dựng, lý giải nguyên nhân dẫn đến sự bế tắc trong thủ tục hành chính liên ngành tại địa phương.
- Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn: Khóa luận làm rõ tính cấp bách của việc thay thế Quy hoạch phát triển quảng cáo năm 2004 của thành phố Hải Phòng vốn đã hết hiệu lực và không còn tương thích với Luật Quảng cáo 2012, QCVN 17:2018/BXD cũng như Quyết định số 821/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, việc đối chiếu với mô hình quản lý của Singapore (hệ thống ALS, bản đồ URA) và Nhật Bản (hồ sơ 3 nhóm biến động, phân cấp 6 khu vực, báo cáo loại bỏ) mang lại các đề xuất lập quy có giá trị ứng dụng cao cho công tác quản lý đô thị loại I tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn số liệu điều tra thực địa của khóa luận dừng lại ở mốc thời gian tháng 12 năm 2020 (dựa trên báo cáo sơ bộ của Công ty Danko và các sở ngành), chưa phản ánh toàn diện các biến động phát sinh trong năm 2021 do tác động của đại dịch Covid-19 và Nghị định số 38/2021/NĐ-CP (vừa ban hành ngày 29/3/2021). Ngoài ra, do Đề án quy hoạch quảng cáo mới của Hải Phòng tại thời điểm nghiên cứu vẫn đang trong giai đoạn trình phê duyệt, tác giả chưa thể kiểm chứng hiệu quả thực tế của đề án này trên thực địa.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Đi sâu đánh giá tác động kinh tế - pháp lý sau khi Đề án điều chỉnh quy hoạch quảng cáo ngoài trời của Hải Phòng được thông qua; nghiên cứu khung pháp lý chi tiết để quản lý và khuyến khích xã hội hóa loại hình quảng cáo kỹ thuật số ngoài trời (DOOH), đặc biệt là tiêu chuẩn kiểm soát cường độ ánh sáng màn hình LED để bảo đảm an toàn giao thông và mỹ quan đô thị thông minh.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Công trình là tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học ngành Luật (chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Hành chính), ngành Quản lý Văn hóa, Quản lý Đô thị và các nhà nghiên cứu về pháp luật xúc tiến thương mại.
- Nội dung giá trị: Bảng dữ liệu thống kê chi tiết hiện trạng phương tiện quảng cáo ngoài trời tại 15 quận, huyện thành phố Hải Phòng (tháng 12/2020); các phân tích so sánh pháp luật chuyên sâu với Singapore và Nhật Bản; hệ thống luận cứ pháp lý chỉ ra sự bất cập giữa Luật Quảng cáo 2012, Luật Xây dựng và hệ thống thông tư hướng dẫn của Bộ Xây dựng.
Câu hỏi thường gặp
1. Xung đột pháp lý cốt lõi giữa ngành Xây dựng và ngành Văn hóa trong cấp phép quảng cáo ngoài trời được tác giả chỉ ra là gì?
Luật Quảng cáo năm 2012 (Điều 29, 31) quy định cá nhân, tổ chức xin cấp phép xây dựng công trình quảng cáo trước, sau đó nộp hồ sơ thông báo sản phẩm quảng cáo đến cơ quan quản lý văn hóa kèm theo bản sao giấy phép xây dựng. Tuy nhiên, khoản 6 Điều 3 Thông tư số 10/2012/TT-BXD của Bộ Xây dựng lại yêu cầu hồ sơ xin cấp phép xây dựng công trình quảng cáo phải có giấy phép hoặc văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý văn hóa. Quy định chồng chéo này tạo ra vòng luẩn quẩn về trình tự, khiến các cơ quan quản lý địa phương lúng túng và gây ách tắc thủ tục cho doanh nghiệp.
2. Tổng số phương tiện quảng cáo và tuyên truyền ngoài trời tại Hải Phòng theo khảo sát tháng 12/2020 là bao nhiêu và phân bố ra sao?
Theo kết quả điều tra của Công ty Danko, Sở Văn hóa và Thể thao cùng Phòng Văn hóa - Thông tin các địa phương, toàn thành phố có 818 phương tiện, gồm: 18 bảng tuyên truyền tấm lớn, 149 bảng tuyên truyền tấm nhỏ, 102 bảng quảng cáo tấm lớn, 199 bảng quảng cáo tấm nhỏ, 230 bảng trên dải phân cách, 70 bảng rao vặt, 30 băng rôn và 20 màn hình LED. Các địa phương có số lượng lớn nhất là Cát Hải (119 phương tiện), Ngô Quyền (115 phương tiện) và Vĩnh Bảo (104 phương tiện).
3. Kinh nghiệm quản lý quảng cáo ngoài trời của Singapore có điểm tiến bộ nào Việt Nam có thể tham khảo?
Singapore vận hành Hệ thống cấp phép quảng cáo ALS trực tuyến, yêu cầu chủ thể nộp đơn xin tư vấn trước để phân loại chính xác giữa biển hiệu thông thường và biển quảng cáo thương mại. Bên cạnh đó, Singapore sử dụng bản đồ quy hoạch không gian của Cơ quan Tái thiết Đô thị (URA) giúp tổ chức, cá nhân dễ dàng tra cứu vị trí được phép lắp đặt trước khi nộp hồ sơ, đồng thời áp dụng ngưỡng quy chuẩn rõ ràng (tổng diện tích trên 5m² bắt buộc phải xin phép).
4. Quy trình và thời hạn giải quyết hồ sơ thông báo sản phẩm quảng cáo tại Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng được thực hiện như thế nào?
Hồ sơ thông báo sản phẩm quảng cáo trên bảng, băng rôn được tiếp nhận qua bộ phận một cửa hoặc đường bưu điện. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định của Luật Quảng cáo 2012 và Thông tư số 10/2013/TT-BVHTTDL, Sở Văn hóa và Thể thao có trách nhiệm xử lý và trả lời tổ chức, cá nhân. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, cơ quan quản lý yêu cầu bổ sung; nếu không đồng ý tiếp nhận, Sở phải trả lời chính thức bằng văn bản nêu rõ lý do.
5. Tại sao "Quy hoạch phát triển quảng cáo giai đoạn 2004 - 2020" của Hải Phòng bị đánh giá là không còn phù hợp?
Quy hoạch năm 2004 bộc lộ các bất cập lớn: không đáp ứng thời hạn lập quy hoạch mới quy định tại điểm a khoản 1 Điều 38 Luật Quảng cáo năm 2012; không tương thích với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 17:2018/BXD (ban hành kèm Thông tư 04/2018/TT-BXD); không đồng bộ với Quyết định số 821/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Hải Phòng đến năm 2025, định hướng 2030; và hoàn toàn chưa tích hợp các tuyến hạ tầng giao thông huyết mạch mới hình thành như Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Sân bay quốc tế Cát Bi mở rộng và Cảng Lạch Huyện.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Nhật Hoàng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung pháp luật thực định về hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích dữ liệu điều tra thực địa năm 2020 tại thành phố Hải Phòng và đối chiếu kinh nghiệm quốc tế từ Singapore và Nhật Bản, tác giả đã vạch rõ những xung đột lập pháp, sự chậm trễ trong công tác quy hoạch đô thị và các vi phạm phổ biến trong thực tiễn áp dụng. Hệ thống kiến nghị được đề xuất trong công trình cung cấp các luận cứ khoa học có giá trị thực tiễn cho việc sửa đổi Luật Quảng cáo, hoàn thiện quy chuẩn xây dựng và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với không gian quảng cáo đô thị.