Chương 1: Lý luận chung về pháp luật phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan. Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh. n 7 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT PHÕNG, CHỐNG BUÔN LẬU, GIAN LẬN THƢƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN 1.
KHÁI QUÁT VỀ BUÔN LẬU, GIAN LẬN THƢƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN 1. Khái niệm và đặc điểm về buôn lậu, gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực hải quan - Khái niệm: Buôn lậu là m t hiện tƣợng kinh tế - xã h i, xuất hiện khi có hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan quản lý hoạt đ ng thƣơng mại ở mỗi quốc gia. Buôn lậu là hoạt đ ng kinh tế bất hợp pháp với mục đích giúp các chủ thể thực hiện đạt đƣợc lợi nhuận trên cơ sở không tuân thủ các quy định của nhà nƣớc về thuế quan. Theo B luật Hình sự năm 2015, buôn lậu có thể đƣợc hiểu là: “buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý”3.
Công ƣớc quốc tế về giúp đỡ hành chính giữa các nƣớc nhằm ngăn ngừa, điều tra, trấn áp các hành vi vi phạm hải quan năm 1977 (gọi tắt là Công ƣớc Nairobi)4 đƣa ra khái niệm nhƣ sau về buôn lậu: “Buôn lậu là gian lận thương mại nhằm che giấu sự kiểm tra, kiểm soát của Hải quan bằng mọi thủ đoạn, mọi phương tiện trong việc đưa hàng hóa lén lút qua biên giới”5. Buôn lậu xuất hiện trƣớc hết là do những mâu thuẫn cơ bản của sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã h i. Đó là sự lạc hậu về kinh tế, tình trạng không đồng nhất giữa các nƣớc, nhất là các nƣớc trong khu vực về sức sản xuất, nhu cầu tiêu dùng và giá cả hàng hóa, đặc biệt là trong điều kiện quốc tế hóa việc phân công lao 3 Khoản 1, Điều 188 B luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015, sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 06 năm 2017. 4 Công ƣớc này do các nƣớc thành viên của Tổ chức Hải quan Thế giới (World Customs Organization, WCO) họp tại Thủ đô Nairobi của nƣớc C ng hòa Kênia ngày 09/6/1977 thông qua.
5 Xem điểm d, Điều 1 Công ƣớc Nairobi năm 1977. n 8 đ ng sản xuất mang tính chuyên môn hóa đã làm tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, giá thành hạ, sự chênh lệch quá lớn về giá thành sản phẩm giữa các nƣớc trong khu vực tạo ra lợi nhuận siêu ngạch cho ngƣời làm lƣu thông hàng hóa. Đây chính là điều kiện sâu xa làm cho buôn lậu tồn tại và phát triển nhƣ m t tất yếu khách quan. Với bản chất là m t hoạt đ ng kinh tế bất hợp pháp mang tính xã h i, buôn lậu luôn chịu sự tác đ ng của các quy luật kinh tế.
Việc quan niệm về buôn lậu của từng quốc gia trong từng giai đoạn và điều kiện chính trị, văn hóa, xã h i cũng khác nhau. Những nƣớc có nền kinh tế phát triển thì khuyến khích xuất khẩu hàng hóa có sức cạnh tranh ra nƣớc ngoài để chiếm thị trƣờng, mang lại lợi nhuận cao luôn đƣợc các quốc gia đó quan tâm; chỉ ngăn chặn những hàng hóa nhập khẩu có ảnh hƣởng xấu đến xã h i nhƣ ma túy, chất nổ. Đối với các nƣớc nghèo, sức sản xuất thấp, giá cả hàng hóa cao, nhu cầu tiêu dùng của xã h i lớn thì buôn lậu và chống buôn lậu là vấn đề hết sức nan giải. Vấn đề đặt ra ở đây là cần phân biệt giữa hành vi buôn lậu và hành vi gian lận thƣơng mại.
Gian lận thƣơng mại là hành vi gian lận thể hiện thông qua mua bán, trao đổi, dịch vụ hàng hóa; mục đích của hành vi này nhằm thu lợi bất chính. Cụ thể đối tƣợng lừa dối cơ quan chức năng nhà nƣớc để thực hiện hành vi gian lận của mình, nhƣ hàng hóa nhiều khai ít, ít khai nhiều hàng có thuế xuất cao khai thấp, khai không đúng chủng loại. nhằm để trốn thuế. Tại H i nghị quốc tế lần thứ 5 về chống gian lận thƣơng mại (GLTM) do Tổ chức Hải quan Thế giới (World Customs Organization, WCO) tổ chức tại thủ đô Brussels (Bỉ) từ ngày 9-13/10/1995, các nƣớc thành viên của WCO đã đƣa ra khái niệm GLTM trong lĩnh vực hải quan nhƣ sau: Gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm các điều khoản pháp qui hoặc pháp luật Hải quan nhằm trốn tránh hoặc cố ý trốn tránh nộp thuế Hải quan, phí và các khoản thu khác đối với việc di chuyển hàng hóa thương n 9 mại hoặc nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hóa không thuộc đối tượng đó hoặc đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục cạnh tranh thương mại chân chính6.
Theo các định nghĩa trên của WCO, buôn lậu là m t dạng GLTM nhƣng ở mức đ cao hơn. GLTM là cố ý làm trái các quy định của Nhà nƣớc, hoặc lợi dụng sơ hở của chính sách, pháp luật và công tác quản lý của cơ quan chức năng để thực hiện hành vi gian dối công khai nhằm thu lợi bất chính. Còn buôn lậu trƣớc hết phải là hành vi GLTM nhƣng ở mức cao hơn (về hành vi, thủ đoạn, tính chất. Nhƣ vậy, khái niệm GLTM r ng hơn, bao hàm trong đó cả khái niệm buôn lậu.
Ở Việt Nam hiện nay, chƣa có văn bản pháp luật nào đề cập đến khái niệm GLTM trong lĩnh vực hải quan. Điều 188 và điều 189 B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định t i buôn lậu và t i vận chuyển trái phép (VCTP) hàng hóa, tiền tệ qua biên giới nhƣng không đề cập đến hành vi GLTM. Nhƣ vậy, có thể nói GLTM có sự tách biệt với t i danh buôn lậu và t i vận chuyển hàng hóa, tiền tệ qua biên giới. Xét về góc đ áp dụng luật pháp có thể khởi tố hình sự tất cả các chủ thể có hành vi thỏa mãn dấu hiệu cấu thành t i "vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới" (Điều 189).
Điều này cho phép xác định ranh giới giữa buôn lậu, vận chuyển hàng hoá trái phép qua biên giới với hành vi GLTM. Tuy nhiên, đối với trƣờng hợp chủ hàng giấu diếm hàng hóa hoặc không có giấy tờ hợp lệ khi xuất nhập khẩu hoặc khai báo gian dối khi qua biên giới, thì cũng có thể coi là VCTP hàng hoá để khởi tố theo Điều 189 B luật Hình sự năm 2015 hoặc xử phạt theo quy định tại Điều 12, 13 Nghị định 127/2013/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định 45/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính và cƣỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan. Ở đây, m t 6 Phạm Đình Trung (2015), Hoạt động phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại của Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ Kinh doanh và Quản lý, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, Hà N i, tr. n 10 vấn đề nảy sinh là cùng m t hành vi vi phạm nhƣ không khai báo hoặc khai báo không đúng khi vân chuyển hàng hoá qua biên giới.việc xử lý có thể áp dụng điều 188 B luật Hình sự ghép vào t i danh “t i buôn lậu”, nhƣng cũng hành vi đó cũng có thể áp dụng Điều 12 Nghị định 127/2013/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung tại điều 1 Nghị định 45/2016/NĐ-CP.
Do đó, việc phân định rõ ràng ranh giới để xác định t i danh buôn lậu và GLTM là m t vấn đề cần đƣợc nghiên cứu giải quyết trong thời gian tới. Nhƣ vậy, việc quy định trong văn bản pháp luật Việt Nam có phần không giống với quy định của tổ chức WCO. Tổ chức WCO cho rằng buôn lậu là m t n i dung của GLTM, trong khi đó pháp luật Việt Nam định nghĩa buôn lậu và GLTM riêng biệt, đồng thời coi GLTM là m t dạng của buôn lậu. Việc không thống nhất này gây rất khó khăn trong việc giải quyết vi phạm phát sinh trong quá trình h i nhập kinh tế quốc tế.
- Đặc điểm: Về chủ thể thực hiện: Buôn lậu, gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực hải quan đƣợc thực hiện bởi cá nhân hoặc tổ chức. Cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời không quốc tịch. Tổ chức bao gồm: cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã h i, tổ chức chính trị xã h i nghề nghiệp, tổ chức xã h i, tổ chức xã h i nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác đƣợc thành lập theo quy định của pháp luật. Về bản chất: Buôn lậu, gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực hải quan là hành vi đƣa hàng hóa qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào n i địa hoặc ngƣợc lại với hình thức bí mật, lén lút nhằm trốn tránh hoặc chống lại sự kiểm tra, kiểm soát của Hải quan hoặc thực hiện làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa (khai báo, kiểm tra, n p thuế) tại cơ quan Hải quan m t cách công khai, hợp pháp nhƣng lợi dụng những kẽ hở để khai báo gian dối nhƣ về tên hàng, mã số, số lƣợng, chất lƣợng.của hàng hóa xuất nhập khẩu.
Về mục đích: Buôn lậu, gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực hải quan nhằm mục đích lợi nhuận. n 11 Về địa bàn hoạt động: Buôn lậu, gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực hải quan đƣợc thực hiện qua lãnh thổ hải quan. Lãnh thổ hải quan gồm những khu vực trong lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của nƣớc C ng hòa xã h i chủ nghĩa Việt Nam nơi Luật hải quan đƣợc áp dụng (khoản 13, Điều 4 Luật Hải quan năm 2014).