Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NHÀ Ở XÃ HỘI 1. Khái quát về nhà ở xã hội và mua bán nhà ở xã hội 1. Khái niệm và đặc điểm nhà ở xã hội 1. Khái niệm nhà ở xã hội Nhà ở xã hội là một khái niệm mới, chẳng những mới trong văn bản luật mà còn mới trong thực tiễn đời sống xã hội.
Có những quan điểm cho rằng, nhà ở xã hội là loại nhà ở chất lượng thấp, được xây dựng cung cấp nhà ở tạm thời cho những người nghèo, những người có thu nhập thấp và khó khăn về nhà ở. Nhiều người không nắm được thông tin chính xác và rõ ràng về nhà ở xã hội được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật để hiểu rằng, pháp luật quy định rất cụ thể và chặt chẽ về loại nhà ở này. Cùng với sự ra đời và thay đổi của các văn bản pháp luật về nhà ở, khái niệm nhà ở xã hội dần được hình thành. Nhìn chung, khái niệm “nhà ở xã hội” ở các nước trên thế giới được hiểu là một loại hình nhà ở thuộc sở hữu của cơ quan nhà nước (có thể là trung ương hoặc địa phương) hoặc các loại hình nhà ở được sở hữu và quản lý bởi nhà nước, các tổ chức phi lợi nhuận được xây dựng với mục đích cung cấp nhà ở giá rẻ cho một số đối tượng được ưu tiên trong xã hội, dành cho những người có thu nhập thấp, các công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân làm việc tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và các đối tượng khác theo quy định của Chính phủ chưa có nhà ở ổn định… và được thuê ở hoặc mua với giá rẻ so với các dự án nhà ở khác trên thị trường hoặc các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng trên cơ sở nhu cầu thuê và thuê mua thực tế trên thị trường của các đối tượng có thu nhập thấp và sinh sống trên địa bàn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương.
Ở Việt Nam, theo Luật Nhà ở năm 2014, nhà ở xã hội được định nghĩa là: “Nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định tại Luật Nhà ở” (khoản 7 Điều 3). Có thể hiểu, nhà ở xã hội là loại nhà ở nhận được ưu đãi của Nhà nước về 7 nhiều mặt như ưu đãi về thuế, ưu đãi đối với chủ dự án đầu tư xây dựng, chính sách ưu đãi vay vốn đối với khách hàng mua nhà ở xã hội. Sở dĩ đặc điểm về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội được đưa vào khái niệm nhà ở xã hội vì đây là một đặc điểm rất đặc thù trong hoạt động kinh doanh nhà ở xã hội nói chung và hoạt động mua bán nhà ở xã hội nói riêng. Không phải cá nhân nào cũng có thể trở thành chủ thể trong hoạt động mua bán nhà ở xã hội.
Việc giới hạn đối tượng như vậy thể hiện ý nghĩa xã hội sâu sắc của nhà ở xã hội đối với bộ phận những người có thu nhập và chưa có nhà ở ổn định. Cũng có thể hiểu, nhà ở xã hội là loại nhà ở dành cho những hộ gia đình nghèo, có thu nhập trung bình thấp, được thuê hoặc mua với giá ưu đãi, hoặc giá rẻ hơn so với giá thị trường, người mua phải đáp ứng một số điều kiện đặc thù do luật quy định hoặc theo cơ chế quy định của địa phương, theo quy định của pháp luật. Trong phạm vi luận văn này, tất cả những dự án phát triển nhà ở công nhân và người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung, nhà ở dành cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị có sự hỗ trợ của Nhà nước trong quá trình đầu tư xây dựng được gọi chung là nhà ở xã hội. Nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp có những đặc điểm riêng khác với nhà ở thương mại.
Nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp thường là những căn hộ được xây dựng với diện tích nhỏ, điều này nhằm tạo điều kiện cho người có nhu cầu về nhà ở mà khả năng tài chính hạn hẹp có thể mua, thuê hoặc thuê mua. Để tiết kiệm diện tích đất, đồng thời để giảm giá thành căn hộ, các dự án phát triển nhà ở xã hội thường đầu tư xây dựng nhà ở chung cư, căn hộ được thiết kế, xây dựng theo kiểu khép kín, đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn mỗi căn hộ tối thiểu là 25 m2 sàn, tối đa 77 m2 sàn, bảo đảm phù hợp với quy hoạch được phê duyệt. Về chất lượng, mặc dù nhà ở xã hội được xây với diện tích nhỏ nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng xây dựng và đảm bảo nhu cầu sử dụng tối thiểu của người có thu nhập thấp. Về giá bán, cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội phải được quy định riêng và có giá cả thấp hơn các loại nhà ở khác như nhà ở thương mại và thường được Nhà nước hỗ trợ về giá.
Khái niệm nhà ở xã hội đã được giải thích rõ hơn trong Nghị định số 71/2010/NĐ- CP: “Nhà ở xã hội là nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần 8 kinh tế đầu tư xây dựng cho các đối tượng quy định tại Điều 53, Điều 54 của Luật Nhà ở và quy định tại Nghị định này mua, thuê hoặc thuê mua theo cơ chế do Nhà nước quy định” (khoản 2 Điều 3) và trong Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 về phát triển và quản lý nhà ở xã hội: “Nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng để đáp ứng nhu cầu cho các hộ gia đình, cá nhân làm việc tại các khu công nghiệp là tên gọi chung bao gồm: Khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp (kể cả các cơ sở khai thác, chế biến) của tất cả các ngành, nghề thuộc các thành phần kinh tế” (khoản 2 Điều 3). Với các quy định này, nhà ở xã hội không những là nội dung quan trọng của chính sách phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là một chính sách xã hội của Nhà nước. Nhà nước ban hành chính sách thúc đẩy thị trường nhà ở phát triển, đồng thời có chính sách để hỗ trợ về nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội, người có thu nhập thấp và người nghèo gặp khó khăn về nhà ở nhằm góp phần ổn định chính trị, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển đô thị, nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại. Phát triển nhà ở nói chung và nhà ở xã hội nói riêng là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội và của người dân, có chỗ ở thích hợp và an toàn là một trong những quyền cơ bản, là điều kiện cần thiết để phát triển con người một cách toàn diện, đồng thời là nhân tố quyết định để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển của đất nước.
Nhà ở xã hội là loại hình nhà ở được xây dựng hướng đến cung cấp cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền có nhà ở của công dân và hướng đến an sinh xã hội. Loại hình nhà ở xã hội này thường có mức giá rẻ hơn các loại hình nhà ở khác. Việc cung cấp nhà ở xã hội có thể là Nhà nước hoặc các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện nhưng điều được quy định chặt chẽ các quy tắc, sự quản lý của Chính phủ nhằm đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường. Điểm khác biệt lớn nhất là nhà ở xã hội có thể được bán, cho thuê, cho thuê mua còn nhà ở công vụ chỉ được cho thuê trong thời gian đảm nhận chức vụ công tác.
Có sự khác nhau này là vì do mục đích hình thành hai loại nhà ở này là khác nhau. Nhà ở xã hội được xây dựng nhằm mục đích cung cấp nhà ở giá rẻ cho những người có thu nhập thấp và đang có nhu cầu sử dụng nhà ở nhằm ổn định cuộc sống. Còn nhà ở công 9 vụ chỉ nhằm mục đích cung cấp nhà ở tạm thời cho cán bộ, công chức, viên chức… đương nhiệm để thuận tiện cho việc công tác. Trên cơ sở làm rõ nội hàm khái niệm nhà ở xã hội, đồng thời kế thừa các quan điểm trước đó về nhà ở xã hội, có thể khẳng định: “Nhà ở xã hội là nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của pháp luật, thuê hoặc mua hoặc thuê mua (người thuê nhà ở sau một thời gian quy định thì được mua và được công nhận sở hữu đối với nhà ở đó) theo quy chế do Nhà nước quy định”.
Đặc điểm nhà ở xã hội Nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả chính sách nhà ở xã hội, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có một nội dung mấu chốt là cần xác định rõ thế nào là nhà ở xã hội, phân biệt nhà ở xã hội và nhà ở thương mại. Cho nên việc xác định rõ đặc điểm nhà ở xã hội là điểm quan trọng để thực hiện hiệu quả chính sách nhà ở xã hội. Với định nghĩa nhà ở xã hội ở trên, có thể chỉ ra những đặc điểm cơ bản của nhà ở xã hội như sau: Thứ nhất, nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua cho một nhóm đối tượng đặc biệt, bị giới hạn bởi pháp luật. Đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội hiện nay bao gồm người có công với cách mạng, những hộ gia đình nghèo ở khu vực nông thôn và thành thị, là những cán bộ công nhân, viên chức, sĩ quan quân đội, là học sinh, sinh viên hoặc những người bị thu hồi đất, người đã trả lại nhà ở công vụ.
Đây là những người có thu nhập thấp, với mức thu nhập hàng tháng của họ chỉ để trang trải những chi phí thiết yếu cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.