Chương 1: Những vấn đề lý luận về lao động nữ và pháp luật lao động nữ Chương 2: Thực trạng pháp luật lao động về lao động nữ tại Việt Nam Chương 3: Thực trạng và những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động về lao động nữ tại CHDCND Lào 7 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Có thể nói, phụ nữ luôn là đề tài nhận được nhiều sự quan tâm đặc biệt là lao động nữ, với sự tham gia nghiên cứu, tìm hiểu của nhiều nhà khoa học, nhà tâm lý, nhà luật học, nhà xã hội học. Cho đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu, sách, báo, tạp chí đề cập đến một vấn đề, một khía cạnh liên quan đến người lao động nữ nói chung và pháp luật lao động về lao động nữ nói riêng ở các góc độ tiếp cận khác nhau. Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, các công trình của các tác giả trong và ngoài nước, cần khái quát đánh giá và phân tích các công trình nghiên cứu có liên quan thành các nhóm sẽ giúp cho luận án tránh được sự trùng lặp về góc độ tiếp cận cũng như nội dung.
Những nghiên cứu liên quan đến lý luận lao động nữ Thực tế có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến nữ giới xét trên khía cạnh họ là một nửa lực lượng lao động của thế giới, họ cần được đối xử bình đẳng khi tham gia thị trường lao động. Khi nghiên cứu lý luận về lao động nữ các tác giả sẽ đưa ra ý kiến của mình về khái niệm, phân tích đặc điểm và vai trò của lao động nữ và một số vấn đề liên quan như quyền của lao động nữ, bình đẳng giới. Sách Jayati Ghosh (2012), Women, Labor, and Capital Accumulation in Asia (Phụ nữ, Lao động và Tích lũy vốn ở Châu Á) đã phân tích và đưa ra các bằng chứng về việc nam giới người chồng, người cha làm trụ cột gia đình, người vợ, người mẹ chủ yếu xử lý các công việc nội trợ, gia đình. Nó đã đẩy đến cuộc đấu tranh kéo dài và huy động kiên quyết để tạo ra sự thừa nhận của xã hội lớn hơn về vai trò của phụ nữ là lao động hưởng lương theo các hình thức khác nhau, để mang lại ý nghĩa kinh tế quan trọng của hộ gia đình không được trả lương và công việc dựa vào cộng đồng.
Harvard Business School (2011), Gender and Corporate Social Responsibility: It’s a Matter of Sustainability (Giới tính và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Đó là vấn đề của sự bền vững): Cũng cho rằng khi phụ nữ tham gia lao động và nắm vai trò lãnh đạo 8 doanh nghiệp thì những đóng góp của họ cũng tốt hơn doanh nghiệp chỉ toàn lãnh đạo nam. Trong các công trình dưới đây, các tác giả phản ánh những thay đổi về vai trò của phụ nữ trong gia đình, bước đầu có những kiến nghị nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong gia đình, trong công cuộc đổi mới: Bùi Thị Tỉnh (2010), Phụ nữ và giới, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội. Võ Thị Mai (2013), Đánh giá chính sách bình đẳng giới dựa trên bằng chứng, Nhà xuất bản chính trị quốc gia-sự thật. Nguyễn Đình Tấn, PGS.
Lê Tiêu La, TS. Trần Thị Bích Hằng (2010), Năng lực cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sơ trong việc thực hiện quyền phụ nữ - Thực trạng và giải pháp, Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2008) Trần Vân Anh- Nguyễn Hữu Minh (chủ biên), Bình đẳng giới ở Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội. Trong cuốn sách Phụ nữ, giới và phát triển Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội xuất bản năm 2002 tác giả Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng cho rằng vai trò cơ bản của lao động nữ bao gồm: vai trò tái sản xuất, vai trò sản xuất, vai trò cộng đồng; đồng thời đánh giá phụ nữ là những người yếu thế, ngoài ra tác giả nêu những biểu hiện, những xu hướng biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình có liên quan đến phụ nữ.
Luận án, luận văn Tác giả Lê Thị Yến Loan trong luận văn Thạc sĩ luật Kinh tế: Pháp luật lao động về lao động nữ từ thực tiễn các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Phước, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội năm 2020 lại phân đặc điểm của lao động nữ thành ba mặt: thứ nhất là mặt sinh lý: bất kỳ một phụ nữ lao động nào được ban thiên chức làm mẹ, và vì thiên chức này người phụ nữ có rất nhiều “phiền toái” đi kèm; thứ hai là mặt sức khỏe và thể trạng của lao động nữ: họ thể trạng yếu hơn và nhỏ hơn nhưng lại khéo léo và có khả năng chịu áp lực cao hơn nam giới; thứ ba là mặt tâm lý: xã hội vẫn còn những định kiến khắt khe dành cho người phụ nữ, họ thường xuyên phải lao động nhiều hơn nam giới với những công việc nội trợ không được trả lương lại cũng không được coi trọng. 9 Trong luận văn thạc sĩ Luật học 2019 “Pháp luật về quyền của lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Trị”, Đại học Huế, trường Đại học Luật, tác giả Võ Thị Thanh Bình đưa ra khái niệm: “Người lao động nữ là người lao động có giới tính nữ, từ đủ 15 tuổi trở lên (trừ 1 số trường hợp ngoại lệ), có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động”2. Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Loan, Sử dụng lao động nữ theo pháp luật lao động từ thực tiễn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học Xã hội bảo vệ năm 2017: Phụ nữ tham gia quan hệ lao động được xác minh là người lao động khi đáp ứng mọi điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Tuy nhiên tác giả nhận định: lao động nữ còn có thể là người lao động dưới 15 tuổi có khả năng tham gia vào quan hệ lao động trong một số ngành nghề công việc đòi hỏi không áp lực và không quá sức lao động.
Điều này có mâu thuẫn với khái niệm lao động nữ mà tác giả đưa ra: “Lao động nữ là người lao động có giới tính nữ, đủ 15 tuổi trở lên, có giao kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động và được đảm bảo đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ cũng như các điều kiện khác của người lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam3”. Trong Luận án tiến sĩ luật học, Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam bảo vệ tại Viện Khoa học Xã hội năm 2016, tác giả Đặng Thị Thơm cho rằng lao động nữ được hiểu là người lao động có những đặc điểm riêng biệt so với lao động nam về tâm sinh lý và thể lực, mang những đặc trưng riêng về giới khi tham gia quan hệ lao động. Tác giả đã dẫn chứng theo lý thuyết về giới và phát triển, phân đặc điểm của lao động nữ thành hai nhóm đặc điểm thứ nhất là đặc điểm sinh học hay còn gọi là giới tính liên quan đến chủ yếu đến vai trò sinh sản; thứ hai là đặc điểm xã hội liên quan đến các vấn đề như thể chế, chính trị, xã hội, tôn giáo, văn hóa, kinh tế 4… 2 Võ Thị Thanh Bình (2019), Pháp luật về quyền của lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Trị, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Huế, trường Đại học Luật, 3 Nguyễn Thị Minh Loan (2017), Sử dụng lao động nữ theo pháp luật lao động từ thực tiễn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học Xã hội 4 Đặng Thị Thơm (2016), Quyền của Lao động nữ theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Khoa học Xã hội 10 Luận văn Thạc sĩ Luật học của Bùi Quang Hiệp, Bảo vệ quyền lợi lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam (2007), trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã nêu: “Lao động nữ được hiểu là người lao động có giới tính nữ, chính sự khác biệt về giới mà lao động nữ có những đặc tính riêng biệt so với lao động nam. Tính đặc thù của lao động nữ xét theo những yếu tố sinh học đó là những đặc điểm về tâm sinh lý và thể lực khác nam giới”5.
Bài viết đăng trên tạp chí, kỷ yếu Hội thảo khoa học Theo báo cáo, nghiên cứu Giới và thị trường lao động ở Việt Nam: Phân tích dựa trên số liệu điều tra lao động - việc làm của ILO năm 2021 cho thấy có hơn 70% phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi lao động tham gia lực lượng lao động. Tỉ lệ này trên toàn cầu là 47,2% và tỉ lệ trung bình của khu vực châu Á - Thái Bình Dương là 43,9%6. Bà Valentina Barcucci - chuyên gia kinh tế lao động của ILO Việt Nam, tác giả chính của nghiên cứu - cho hay: "Bất bình đẳng đối với phụ nữ về chất lượng việc làm và phát triển nghề nghiệp cũng bắt nguồn từ trách nhiệm kép mà họ phải gánh vác. Phụ nữ phải dành thời gian làm việc nhà nhiều hơn gấp đôi so với nam giới".
Báo cáo nhận định: “Mặc dù ở cấp độ chính sách, Bộ luật Lao động 2019 đã mở ra những cơ hội để thu hẹp khoảng cách giới, chẳng hạn như thu hẹp khoảng cách trong độ tuổi nghỉ hưu hay xóa bỏ việc hạn chế phụ nữ tham gia một số ngành nghề nhất định, Việt Nam vẫn còn một nhiệm vụ khó khăn hơn nữa cần phải hoàn thành. Đó là việc thay đổi tư duy của nam giới và của cả chính phụ nữ Việt Nam để từ đó thay đổi hành vi của họ trên thị trường lao động7.