CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI LAO ĐỘNG NỮ TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về lao động nữ Dựa trên giải thích về ngôn ngữ trong Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, “lao động” được định nghĩa là “là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội”2. Ngoài ra, “lao động” còn có thể hiểu là “số lượng người lao động trong nền kinh tế và nỗ lực họ bỏ ra để sản xuất hàng hóa và dịch vụ”3. Sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải, vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu nhân loại.
Nhìn chung, lao động là tiền đề, là yếu tố quan trọng nhất nhằm thúc đẩy sự phát triển và tạo ra giá trị cho nền kinh tế, xã hội. Dưới góc độ pháp lý, “lao động” gắn liền với các quy định và luật lệ liên quan đến hoạt động lao động, quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, “lao động” còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, tạo điều kiện công bằng và bình đẳng trong lĩnh vực lao động và đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế và xã hội. Hiến pháp 1992 của nước ta đã ghi nhận “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước và xã hội có kế hoạch ngày càng tạo nhiều việc làm cho người lao động4”. Một số khía cạnh chính của “lao động” trong lĩnh vực pháp lý, bao gồm: (i) Luật lao động; (ii) Hợp đồng lao động; (iii) Bảo hiểm xã hội; (iv) Pháp luật bình đẳng giới. Và trong đề tài này, nhóm tác giả tập trung hướng đến vấn đề “bình đẳng giới”, cụ thể là “phân biệt đối xử đối với lao động nữ”. BLLĐ 2012 đã định nghĩa người lao động là người làm việc theo “hợp đồng lao động”.
Vì vậy, nếu một cá nhân làm việc theo hợp đồng nhưng hợp đồng đó lại không được đề cập là “hợp đồng lao động” thì đương nhiên hiểu rằng người đó không phải là người lao động của công ty. BLLĐ 2019 đã tiếp thu và sửa đổi định nghĩa này cho phù 2 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. 3 Kimberly Amadeo (2021), “What Is Labor?”, [https://www.com/labor-definition-types-and- how-it-affects-the-economy-3305859] (truy cập ngày 27/7/2023). 4 Điều 55 Hiến pháp năm 1992.
11 hợp với pháp luật hiện hành, cụ thể là “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này”. Như vậy, người lao động có các đặc điểm sau đây: thuộc độ tuổi lao động quy định tại khoản 1 Điều 3 BLLĐ 2019; làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận; được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động và không phụ thuộc vào tên gọi của loại hợp đồng được ký kết. Qua các đặc điểm được làm rõ từ khái niệm “lao động” và “người lao động” thì việc hiểu và phân biệt hai định nghĩa này trở nên dễ dàng hơn.
Cụ thể, “lao động” là sự vận động, là quyền và nghĩa vụ mỗi công dân đều có nhằm mục đích tạo ra sản phẩm, phục vụ xã hội. Còn “người lao động” là lực lượng sản xuất hàng đầu, vận dụng sức lao động để sản xuất, kinh doanh, và gặt hái thành quả. Đây cũng là tiền đề để có thể làm rõ khái niệm về “lao động nữ”. Xét về mặt sinh học, “lao động nữ” là người mang giới tính nữ, có các đặc điểm sinh học riêng biệt khó có thể thay đổi và các đặc tính khác về sức khỏe, tâm sinh lý mà chỉ bản thân nữ giới mới có như mang thai, sinh con, cho con bú,… “Lao động nữ” là đề cập đến người phụ nữ, tham gia vào hoạt động lao động, bao gồm các công việc trong nhiều lĩnh vực và ngành nghề khác nhau.
Họ đóng góp quan trọng và đa dạng cho nền kinh tế và xã hội, đảm nhiệm các vị trí và vai trò từ quản lý, công nghệ, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, sản xuất đến nông nghiệp và dịch vụ. Về mặt pháp lý, “lao động nữ” là người lao động mang giới tính nữ, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người lao động và được Nhà nước ban hành những quy định riêng. Vì lý do họ thường phải đối mặt với nhiều thách thức và cơ hội đa dạng, bao gồm những điểm mạnh và yếu, cũng như những điều kiện lao động phức tạp. Do đó, Luật lao động và các văn bản dưới luật có liên quan cũng những quy định pháp luật trong nhiều quốc gia khác đã được thiết lập để bảo vệ quyền lợi và đảm bảo bình đẳng cho lao động nữ, bao gồm bình đẳng về mức lương, quyền nghỉ thai sản, quyền công bằng trong cơ hội tiến thân và các quyền lợi khác.
12 Trên thực tế, khái niệm về “lao động nữ” chưa được đề cập hay quy định chính thức tại bất kỳ văn bản pháp lý nào mà chỉ thường được hiểu như một lẽ đương nhiên, cụ thể là một người lao động mang giới tính nữ. Tuy nhiên, trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành, các khái niệm từ các văn bản có liên quan, nhóm tác giả đưa ra được khái niệm về “lao động nữ” như sau “Lao động nữ là người lao động mang giới tính nữ, làm việc theo thỏa thuận, được trả lương, chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động và được pháp luật ban hành những quy định riêng phù hợp để bảo vệ quyền lợi và đảm bảo bình đẳng trong quan hệ lao động”. Đặc điểm về lao động nữ Bởi sự khác biệt về giới nên lao động nữ có những đặc thù của riêng họ. Sự khác biệt giữa lao động nữ và lao động nam cũng ảnh hưởng rất lớn đến người lao động trong quá trình làm việc của họ.
Ngoài thời gian tham gia lao động, người lao động nữ còn có chức năng làm mẹ, thực hiện các công việc chăm sóc gia đình. Chính vì vậy, ngoài những quy định áp dụng cho tất cả lao động nói chung, pháp luật lao động có quy định riêng áp dụng cho lao động nữ nhằm bảo vệ họ trước những nguy cơ bất lợi có thể xảy ra do ảnh hưởng của những yếu tố đặc thù. Từ đó, để tìm ra những nguyên nhân về mặt khoa học hay các định kiến xã hội dẫn đến hành vi phân biệt đối xử với lao động nữ, cần thiết phải hiểu rõ về các đặc điểm sau: Thứ nhất, những đặc điểm về mặt sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm lý. Đây là sự khác biệt rõ ràng, dễ nhận thấy nhất để phân biệt giữa lao động nam và lao động nữ.
Các đặc điểm mang tính tự nhiên của phụ nữ ảnh hưởng rất lớn đến cả họ và người sử dụng lao động khi họ tham gia vào quan hệ lao động. Cơ thể của lao động nữ không có cấu tạo thể chất có thể chịu được áp lực, tác động lớn, dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố độc hại, nguy hiểm. Lao động nữ trong giai đoạn hành kinh thường xuất hiện những cơn đau bụng, nó có thể diễn ra chỉ trong một lúc nhưng cũng có thể kéo dài trong một khoảng thời gian không cố định của ngày. Vì vậy, thời gian nghỉ của lao động nữ đang hành kinh có thể không diễn ra liên tục, tùy vào tình trạng sức khỏe của từng người.
Bên cạnh đó, như một quy luật vốn có, người phụ nữ từ khi sinh ra đã có thể mang “thiên chức” làm mẹ bởi đặc trưng tự nhiên là khả năng mang thai, sinh nở, cho con bú. Chính vì sự hạn chế về thể chất như vậy, nên họ thường bị xem là “chân yếu tay mềm” dẫn đến việc bị giới hạn trong cơ hội việc làm. Nhiều người sử dụng lao động 13 thường cho rằng sức khỏe của phụ nữ hạn chế sẽ không đảm bảo được chất lượng công việc. Thêm nữa, khi làm ở các môi trường có tính đặc thù (môi trường độc hại, nặng nhọc, …) rất dễ làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và đặc biệt là khả năng sinh sản của lao động nữ.
Họ thường bị gán với các công việc có tính chất nhẹ nhàng, yêu cầu sự tỉ mỉ như may mặc, nấu ăn, dọn dẹp, … Ngoài ra, trong quá trình thực hiện “thiên chức” làm mẹ của mình, lao động nữ thường bị quá trình này làm ảnh hưởng đến thời gian để đầu tư vào công việc dẫn đến dễ bị tụt hậu về mặt chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ. Bên cạnh đó, trong quá trình mang thai và nuôi con nhỏ, sức khoẻ tâm lý của lao động nữ rất dễ bị ảnh hưởng. Trong quá trình mang thai, nữ giới thường trở nên nhạy cảm với môi trường bên ngoài do sự gia tăng nội tiết tố cộng thêm những áp lực từ công việc, gia đình khiến cho tâm lý họ trở nên dễ căng thẳng, mất tập trung. Hiện nay, rất nhiều phụ nữ dễ mắc trầm cảm sau sinh do sức khoẻ giảm sút kèm theo cuộc sống bị đảo lộn sau sinh nở.
Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam đã có những quy định ưu tiên nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động nữ như các quy định về chăm sóc sức khoẻ, quyền lựa chọn làm hoặc không làm các công việc có thể ảnh hưởng đến chức năng sinh sản để họ có thể giảm bớt gánh nặng trong công việc. Thứ hai, về đặc điểm vai trò của người lao động nữ trong gia đình và xã hội. Từ trước đến nay, theo quan niệm của người Á Đông nói riêng và phần lớn thế giới nói chung đều cho rằng phẩm chất mà một người phụ nữ nhất định phải có là “Công dung ngôn hạnh”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, … Bởi đặc trưng về thể chất của mình như mang thai, sinh con, phái nữ thường bị xem thường và mặc định cho rằng, các công việc mà họ phải làm chỉ có chăm chồng, nuôi con và không được tham gia các hoạt động xã hội như nam giới. Chính vì tư tưởng lạc hậu này mà ngày nay, vẫn còn nhiều phụ nữ ít nhận được sự quan tâm, được đào tạo về trình độ, mở rộng cơ hội nâng cao tay nghề, nghiệp vụ như nam giới.