CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LÀM MẸ CỦA LAO ĐỘNG NỮ VÀ THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI DƯỚI GÓC ĐỘ BẢO VỆ QUYỀN LÀM MẸ CỦA LAO ĐỘNG NỮ 1. Khái quát về bảo vệ quyền làm mẹ của lao động nữ 1. Khái quát về lao động nữ Lao động là hoạt động chủ yếu tồn tại theo sự phát triển của cuộc sống con người. Trong xã hội, con người lao động để tạo ra của cải vật chất, tạo ra các giá trị hữu hình và vô hình cho chính bản thân và xã hội.
Người lao động theo Công ước số 155 về An toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm việc (1981) là bao gồm tất cả những người đang được sử dụng, kể cả công chức. Có thể hiểu, người lao động bao gồm tất cả những người thuộc giới lao động trong xã hội. Theo Bộ luật lao động năm 2019 của Việt Nam, NLĐ là người làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Khi tham gia vào một quan hệ lao động theo thỏa thuận, người lao động phải đảm bảo các điều kiện cơ bản về năng lực pháp luật và năng lực hành vi lao động.
Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng đều đáp ứng, thỏa mãn những điều kiện căn bản đó mà sẽ có những trường hợp đặc biệt có những đặc điểm riêng, gọi là lao động đặc thù. Hiểu theo góc độ khái quát nhất, lao động đặc thù là những lao động có đặc điểm riêng về thể chất, tinh thần và tâm sinh lí. Đây là những dấu hiệu cơ bản để nhận diện nhóm lao động nữ là nhóm lao động được xếp vào lao động đặc thù. Khi nhắc đến nam và nữ chúng ta hiểu sự phân biệt các đặc điểm sinh học giữa nam và nữ.
Đặc điểm sinh học giữa nam và nữ là sản phẩm của quá trình tiến hóa và di truyền lâu dài, khó thay đổi. Sự khác biệt này tạo ra sự khác biệt giữa nam và nữ về vị trí, vai trò trong gia đình và xã hội, sự phân công lao động theo giới. Theo Công ước số 111 về phân biệt đối xử việc làm và nghề nghiệp (1958) thì giới tính không mang ý nghĩa phụ nữ hay giới tính sinh 7 học mà được hiểu là đặc điểm vị trí vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội tức là chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội. Như vậy, dựa trên các đặc điểm về lao động đặc thù và đặc điểm riêng biệt của nữ, chúng ta có thể hiểu lao động nữ là người lao động có giới tính nữ, có những đặc điểm riêng khác biệt so với lao động nam, đủ 15 tuổi trở lên, làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động.
Giống như các lao động thông thường khác, lao động nữ cần thỏa mãn các điều kiện như sau để trở thành người lao động theo quy định của pháp luật lao động: - Về độ tuổi: Độ tuổi cơ bản để xác định một người có phải người lao động hay không trong hầu hết các ngành nghề là đủ 15 tuổi trở lên. Trường hợp sử dụng lao động chưa thành niên dưới 15 tuổi cần có những điều kiện nhất định, đó là NSDLĐ chỉ được sử dụng lao động là người dưới 13 đến dưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ lao động – Thương binh xã hội quy định như những ngành nghề thuộc về năng khiếu: múa, hát, sân khấu điện ảnh, thủ công mỹ nghệ,… Ngoài ra, việc sử dụng lao động dưới 15 tuổi phải tuân thủ các quy định riêng của pháp luật với nhóm lao động này như phải có giấy khám sức khỏe, khám sức khỏe định kỳ 6 tháng 1 lần,… - Có khả năng lao động: Theo quan điểm khoa học pháp lý, “có khả năng lao động’’ của NLĐ được thể hiện qua năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Trong đó, năng lực pháp luật lao động là khả năng mà pháp luật quy định hay ghi nhận cho công dân có quyền lao động, được hưởng quyền và có thể tự mình thực hiện nghĩa vụ của NLĐ. Năng lực pháp luật lao động của các chủ thể được pháp luật đảm bảo một cách bình đẳng về mặt pháp lý.
Năng lực hành vi lao động là khả năng bằng chính hành vi của bản thân họ trực tiếp tham gia vào quan hệ pháp luật lao động cá nhân, tự hoàn thành mọi nghĩa vụ, tạo ra và thực hiện quyền, hưởng mọi quyền lợi phát sinh từ quan hệ đó. Năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động tồn tại trong mối quan hệ hỗ trợ, không tách rời nhau. Trong một số trường hợp, pháp luật quy định hạn chế năng lực pháp luật lao động như theo quy định của pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền như cấm đảm nhận một số chức vụ, hay cấm làm một số ngành nghề nhất định. Khi đó mặc dù có khả năng, có năng lực hành vi lao động đầy đủ họ cũng không được tham gia quan hệ lao động trong phạm vi pháp luật cấm.
8 - Làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ: NLĐ trước hết khi tham gia quan hệ lao động là để bán sức lao động, kiếm tiền nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau. Vì vậy, NLĐ phải làm những công việc được giao và hưởng theo lợi ích, được trả lương theo quy định, có nghĩa vụ lao động và chịu sự quản lý của NSDLĐ. Theo đó, lao động nữ là NLĐ đảm bảo đủ các điều kiện chung theo quy định của pháp luật lao động. Tuy nhiên, khái niệm về LĐN như trên là khái niệm thuộc về lĩnh vực pháp luật lao động.
Trong lĩnh vực BHXH, ngoài những LĐN làm việc theo thỏa thuận (theo HĐLĐ) còn là các LĐN là cán bộ, công chức, viên chức, LĐN làm việc trong lực lượng vũ trang. Họ là những người tham gia BHXH bắt buộc. Các quyền lợi được đề cập trong các nội dung pháp luật về BHXH của Luận văn được áp dụng đối với các LĐN tham gia BHXH bắt buộc. Ngoài ra, Lao động nữ có một số các đặc điểm riêng của nhóm lao động đặc thù như sau: - Lao động nữ có thể chất cơ thể yếu hơn lao động nam.
Lao động nữ là người lao động có giới tính nữ, mang những đặc điểm sinh học nữ, có sức khỏe, cơ bắp, sức bền, sức tải,… yếu hơn so với lao động nam. Ngoài ra, có thể tính đến sự ảnh hưởng của tập quán, truyền thống, tư tưởng trong hoạt động lao động như tư tưởng “trọng nam khinh nữ’’, quan niệm phụ thuốc vào trụ cột gia đình,… mà lao động nữ sẽ chịu nhiều ảnh hưởng về tinh thần. Chính vì vậy, lao động nữ ít lựa chọn những công việc có tính nặng nhọc, độc hại và cần có chế độ làm việc riêng phù hợp với tâm lý và thể chất. - Lao động nữ có đặc thù về khả năng sinh sản, nuôi con.
Nhắc đến phụ nữ, chúng ta thường nhắc đến thiên chức làm mẹ, làm vợ và chăm sóc gia đình. Phụ nữ có một đặc trưng riêng là cấu tạo cơ thể đảm nhận chức năng sinh sản. Phụ nữ sẽ trải qua các giai đoạn sinh lý đặc biệt như thời kỳ kinh nguyệt, thai nghén, sinh con, cho con bú. Bên cạnh đó, phụ nữ cũng dành nhiều thời gian để chăm sóc gia đình, nội trợ.
Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe, thời gian lao động, trình độ chuyên môn, giao tiếp xã hội,… của người phụ nữ. Trong quá trình tham gia quan hệ lao động, phụ nữ cần có thời gian nghỉ sinh và nuôi con, cần đảm bảo phân bổ thời gian giữa làm việc và chăm sóc gia đình, cần đảm bảo giải quyết các nhu cầu tự nhiên về giới tính…So với lao động nam, họ gặp nhiều bất lợi khi không thể tham gia các 9 chuyến công tác xa, các công việc cần thời gian tăng ca hay bị gián đoạn vì thời gian nuôi con nhỏ. Chính vì vậy, lao động nữ thường phải chịu áp lực trong vấn đề tuyển dụng và sử dụng lao động cũng như các cơ hội để phát triển năng lực làm việc, nâng cao chuyên môn nghề nghiệp. - Lao động nữ chịu sự ảnh hưởng nhất định về bất bình đẳng giới trong lao động.
Không chỉ ở các quốc gia phương Đông mà các quốc gia phương Tây cùng chịu sự ảnh hưởng từ vấn đề bất bình đẳng giới này. Từ thuở xa xưa, tư tưởng trọng nam khinh nữ như một thói quen văn hóa ăn sâu vào tiềm thức mọi tầng lớp xã hội; nam giới có quyền tham gia các công việc trọng yếu, nắm giữ quyền lực và quyết định mọi việc quan trọng trong gia đình và ngoài xã hội; còn phụ nữ phải phụ thuộc hoàn toàn vào nam giới, phải có trách nhiệm trông nom nhà cửa, chăm sóc con cái, bị hạn chế các quyền lợi bên ngoài xã hội. Tư tưởng này tồn tại qua nhiều thế hệ đã bó buộc rất nhiều khiến cho phụ nữ bị coi thường, ngăn cản lao động, ngăn cản cơ hội phát triển bản thân và tham gia lao động một cách bình đẳng. Cho đến ngày nay, khi nền kinh tế phát triển vượt bậc, xã hội ngày càng văn minh, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã dần được xóa bỏ nhưng bình đẳng đối với phụ nữ vẫn chưa được giải phóng hoàn toàn.
Mặc dù phụ nữ là lực lượng lao động chính ngang với nam giới nhưng khi tham gia quan hệ lao động, vẫn còn tồn tại sự phân biệt khi tuyển dụng, kí kết hợp đồng lao động, tiền lương,. - Lao động nữ có một số đặc thù riêng tạo ra những ưu điểm nổi trội hơn lao động nam khi tham gia quan hệ lao động. Cũng từ những đặc điểm riêng về giới, lao động nữ có lợi thế hơn trong những công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận, nhẫn nại như giày da, dệt may, chế biến thực phẩm, giúp việc gia đình, làm đẹp,… Thực tế, các công việc nêu trên có lực lượng lao động là nữ nhiều hơn nam. Từ các đặc điểm nêu trên, lao động nữ trở thành lao động đặc thù cần sự điều chỉnh của quy định pháp luật nhằm thực hiện quyền bình đẳng trong lao động nói riêng, trong xã hội nói chung để phát huy tối đa khả năng lao động của lực lượng lao động này.